13 Vụ bê bối Watergate – Wikipedia tiếng Việt mới nhất

Bức ảnh trên không của khu phức tạp Watergate tại Washington, D.C.

Vụ bê bối Watergate là một vụ bê bối chính trị ở Hoa Kỳ lớn liên quan đến chính quyền của Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon từ năm 1972 đến năm 1974 dẫn đến việc Nixon phải từ chức. Vụ bê bối bắt nguồn từ việc chính quyền Nixon liên tục cố gắng che đậy sự dính líu của mình trong vụ đột nhập vào trụ sở Ủy ban Quốc gia đảng Dân chủ tại Tòa nhà Văn phòng Watergate ở Washington, DC ngày 17 tháng Sáu năm 1972. Sau khi 5 thủ phạm bị bắt, báo chí và Bộ Tư pháp Mỹ đã phát hiện ra rằng số tiền mặt được tìm thấy trên người họ vào thời điểm đó có liên quan đến Ủy ban Tái bầu cử Tổng thống.[1][2] Các cuộc điều tra sâu hơn, cùng với những điều được tiết lộ trong các phiên tòa xét xử những kẻ đột nhập sau đó, đã khiến Hạ viện Hoa Kỳ trao cho Ủy ban Tư Pháp Hạ viện Hoa Kỳ thêm quyền điều tra để điều tra “một số vấn đề trong phạm vi quyền xét xử của nó”[3][4] và Thượng viện Hoa Kỳ để thành lập Ủy ban Watergate của Thượng viện Hoa Kỳ. Kết quả các phiên điều trần Watergate tại Thượng viện đã được PBS phát sóng trên toàn quốc hết giây này sang phút khác và thu hút sự quan tâm của công chúng.[5] Các nhân chứng làm chứng rằng Nixon đã phê duyệt kế hoạch che đậy sự tham gia của chính quyền vào vụ đột nhập và rằng có một hệ thống ghi âm được kích hoạt bằng giọng nói trong Văn phòng Bầu dục.[6][7] Trong suốt cuộc điều tra, chính quyền đã chống lại các cuộc thăm dò vào nó, dẫn đến một cuộc khủng hoảng hiến pháp.[8]

Một số bật mý lớn và hành vi nghiêm trọng của tổng thống chống lại cuộc tìm hiểu sau đó vào năm 1973 đã khiến Hạ viện mở màn quy trình luận tội Nixon. [ 9 ] Tòa án Tối cao Hoa Kỳ ra phán quyết buộc Nixon phải công bố những cuộn băng ghi âm của Văn phòng Bầu dục cho những nhà tìm hiểu của cơ quan abcxyz. Các đoạn băng White House của Nixon bật mý rằng ông ta đã thủ đoạn che đậy những hành vi mà diễn ra sau vụ đột nhập và sau đó nỗ lực sử dụng những quan chức liên bang để làm chệch hướng cuộc tìm hiểu. [ 10 ] [ 11 ] Ủy ban Tư pháp Hạ viện đã trải qua ba lao lý luận tội Nixon vì tội cản trở công lý, lạm dụng quyền lực tối cao và không tuân lệnh Quốc hội. Với sự đồng lõa của mình trong việc che đậy đã bị công bố công khai minh bạch và ủng hộ chính trị của ông trọn vẹn bị xói mòn, Nixon từ chức vào ngày 9 tháng Tám năm 1974. Người ta tin rằng, nếu ông không làm như vậy, ông sẽ bị Hạ viện luận tội và không bổ nhiệm sau một phiên tòa xét xử tại Thượng viện. [ 12 ] [ 13 ] Ông là tổng thống Mỹ duy nhất đã từ chức. Vào ngày 8 tháng Chín năm 1974, người tiếp sau của Nixon, Gerald Ford, đã ân xá cho ông .

Có 69 người bị truy tố và 48 người—nhiều người trong số họ là các quan chức hàng đầu của chính quyền Nixon—bị kết án.[14] Hoán dụ Watergate trở thành một từ bao gồm một loạt các hoạt động bí mật và thường là bất hợp pháp do các thành viên của chính quyền Nixon thực hiện, bao gồm nghe lén văn phòng của các đối thủ chính trị và những người mà Nixon hoặc các quan chức của ông ta nghi ngờ; ra lệnh điều tra các nhóm hoạt động và các nhân vật chính trị; và sử dụng Cục Điều tra Liên bang, Cơ quan Tình báo Trung ương và Sở Thuế vụ làm vũ khí chính trị.[15] Việc sử dụng hậu tố -gate sau một thuật ngữ xác định từ đó đã trở thành đồng nghĩa với bê bối công khai, đặc biệt là bê bối chính trị.[16][17][18][19][20]

Bạn đang đọc: Vụ bê bối Watergate – Wikipedia tiếng Việt

Nghe lén những trụ sở của Đảng Dân chủ[sửa|sửa mã nguồn]

lossy page1 220px Government Exhibit 133%2C Chapstick Tubes with Hidden Microphones NARA 304967.tif Trong thời hạn đột nhập, E. Howard Hunt và G. Gordon Liddy vẫn giữ liên lạc với nhau và với những tên đột nhập qua radio. Những ống son dưỡng môi tên thương hiệu ChapStick được trang bị micro nhỏ này sau đó được phát hiện trong két sắt văn phòng White House của Hunt .220px Transistor radio used in the Watergate break in Ra-đi-ô bán dẫn được dùng trong vụ đột nhập Watergate220px Walkie talkie used in Watergate break in%2C circa 1970%27s Đàm được dùng trong vụ đột nhập Watergate220px Watergate filing cabinets at DNC HQ Tủ đựng hồ sơ, tài liệu của DNC từ tòa nhà văn phòng Watergate bị làm hư bởi những tên đột nhậpVào ngày 27 tháng Một năm 1972, G. Gordon Liddy, Cố vấn Tài chính cho Ủy ban Tái bầu cử Tổng thống ( CRP ) và là cựu trợ lý của John Ehrlichman, đã trình diễn một kế hoạch tình báo chiến dịch gồm có một loạt những hoạt động giải trí phạm pháp cho quản trị CRP lâm thời Jeb Stuart Magruder, Tổng chưởng lý John Mitchell, và Cố vấn Tổng thống John Dean chống lại Đảng Dân chủ. Theo Dean, điều này đã ghi lại ” cảnh khởi đầu của vụ bê bối chính trị tồi tệ nhất trong thế kỷ XX và sự khởi đầu cho sự kết thúc của nhiệm kỳ tổng thống Nixon “. [ 21 ]Mitchell coi kế hoạch này là không trong thực tiễn. Hai tháng sau, Mitchell phê duyệt một phiên bản rút gọn của kế hoạch, gồm có việc đột nhập trụ sở của Ủy ban Toàn quốc Đảng Dân chủ ( DNC ) tại Khu phức tạp Watergate ở Washington, D.C. — người ta suy đoán rằng là để chụp ảnh tài liệu chiến dịch và thiết lập thiết bị nghe lén trong điện thoại thông minh. Liddy có danh nghĩa là người đảm nhiệm hoạt động giải trí, nhưng kể từ đó khẳng định chắc chắn rằng anh ta đã bị cả Dean và tối thiểu hai cấp dưới của anh ta lừa, trong đó có những cựu sĩ quan CIA E. Howard Hunt và James McCord ; James lúc đó đang giữ vai trò Điều phối viên An ninh của CRP sau khi John Mitchell trước đấy từ chức Tổng chưởng lý để trở thành quản trị CRP. [ 22 ] [ 23 ]Vào tháng Năm, McCord đã giao cho cựu đặc vụ FBI Alfred C. Baldwin III thực thi việc nghe lén và theo dõi những cuộc điện đàm sau đó. [ 24 ] McCord làm chứng rằng ông đã chọn tên của Baldwin từ sổ ĐK do Thương Hội những cựu đặc vụ của FBI công bố để thao tác cho Ủy ban Tái bầu cử Tổng thống Nixon. Baldwin tiên phong làm vệ sĩ cho Martha Mitchell — vợ của John Mitchell, người đang sống ở Washington vào thời gian đó. Baldwin đi cùng Martha Mitchell đến Chicago. Cuối cùng ủy ban đã sửa chữa thay thế Baldwin bằng một nhân viên cấp dưới bảo mật an ninh khác .Vào ngày 11 tháng Năm, McCord sắp xếp cho Baldwin — người mà phóng viên báo chí tìm hiểu Jim Hougan diễn đạt là ” bằng cách nào đó đặc biệt quan trọng so với và có lẽ rằng được McCord quen biết ” — ở tại phòng khách sạn cạnh đường ( motel ) của Howard Johnson cách một con đường với khu phức tạp Watergate. [ 25 ] Phòng 419 được đặt bằng tên công ty của McCord. [ 25 ] Theo lệnh của Liddy và Hunt, McCord và nhóm đột nhập của anh ta chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc đột nhập Watergate tiên phong của họ, khởi đầu vào ngày 28 tháng Năm. [ 26 ]Hai điện thoại cảm ứng bên trong văn phòng của trụ sở DNC được cho là đã bị nghe lén. [ 27 ] Một là điện thoại thông minh của Robert Spencer Oliver. Vào thời gian đó, Oliver đang làm giám đốc quản lý của Thương Hội những quản trị Bang Đảng Dân chủ. Chiếc điện thoại cảm ứng còn lại thuộc về quản trị DNC Larry O’Brien. FBI không tìm thấy vật chứng nào cho thấy điện thoại thông minh của O’Brien bị nghe trộm ; [ 28 ] tuy nhiên, người ta xác lập rằng một thiết bị nghe thật sự đã được thiết lập trong điện thoại cảm ứng của Oliver. Dù thành công xuất sắc với việc setup những thiết bị nghe, những nhân viên cấp dưới của CRP đã sớm nhận định và đánh giá rằng những thiết bị này cần được thay thế sửa chữa. Họ đã lên thủ đoạn một ” cuộc đột nhập ” thứ hai để xử lý tình hình. [ 27 ]

Sau nửa đêm thứ Bảy, ngày 17 tháng Sáu năm 1972 một khoảng thời gian nào đó, Frank Wills, nhân viên bảo vệ của Khu phức hợp Watergate nhận thấy băng dính che các chốt của một số cửa của khu phức hợp dẫn từ hầm để xe đến một số văn phòng, điều này cho phép các cửa đóng nhưng không bị khóa. Anh đã gỡ băng dính ra và tin rằng không có chuyện gì cả.[29] Khi anh ta quay lại một thời gian ngắn sau đó và phát hiện ra rằng ai đó đã dán lại băng dính vào các chốt khóa, anh đã gọi cảnh sát.[29] Trả lời cuộc gọi là một chiếc xe cảnh sát không nhãn hiệu với ba sĩ quan mặc thường phục (Hạ sĩ Paul W. Leeper, Sĩ quan John B. Barrett và Sĩ quan Carl M. Shoffler) đang làm việc cho “biệt đội ăn mày” xuyên đêm, ăn mặc như dân Hippie và theo dõi các giao dịch ma túy và các tội phạm đường phố khác.[30] Alfred Baldwin, đang làm nhiệm vụ “canh gác” tại khách sạn Howard Johnson’s bên kia đường, đã bị phân tâm khi xem phim Attack of the Puppet People trên TV và không quan sát xe cảnh sát tiến đến trước tòa nhà Watergate.[30] Anh ta cũng không thấy các sĩ quan mặc thường phục đang điều tra dãy buồng gồm 29 văn phòng ở tầng 6 của DNC. Đến lúc Baldwin cuối cùng nhận thấy hoạt động bất thường trên tầng sáu và truyền thanh radio cho những kẻ đột nhập thì đã quá muộn.[30] Cảnh sát đã bắt giữ 5 người đàn ông, sau đó được xác định là Virgilio Gonzalez, Bernard Barker, James McCord, Eugenio Martínez và Frank Sturgis.[22] Họ bị buộc tội cố gắng đột nhập và cố gắng nghe trộm điện thoại và các truyền thông liên lạc khác. Tờ Washington Post đưa tin rằng “cảnh sát đã tìm thấy những chiếc móc khóa và xà beng nạy cửa, gần 2.300 đô la tiền mặt, phần lớn trong những tờ tiền mệnh giá 100 đô la với số sê-ri theo thứ tự … một máy thu sóng ngắn có thể tiếp nhận cuộc gọi của cảnh sát, 40 cuộn phim chưa lộ sáng, hai máy ảnh 35 mm và ba khẩu súng hơi cay kích thước như cây bút”.[31]

Sáng hôm sau, Chủ nhật, ngày 18 tháng Sáu, G. Gordon Liddy gọi điện cho Jeb Magruder ở Los Angeles và thông tin với ông ta rằng ” bốn người đàn ông bị bắt cùng McCord là những người đấu tranh cho tự do Cuba, những người mà Howard Hunt đã tuyển dụng “. Ban đầu, tổ chức triển khai của Nixon và White House nhanh gọn thao tác để che đậy tội phạm và bất kể dẫn chứng nào hoàn toàn có thể gây thiệt hại cho tổng thống và công cuộc tái đắc cử của ông. [ 32 ]Vào ngày 15 tháng Chín năm 1972, một đại bồi thẩm đoàn đã truy tố năm tên đột nhập văn phòng, cũng như Hunt và Liddy, [ 33 ] về tội thủ đoạn, đột nhập trộm cắp và vi phạm luật nghe lén liên bang. Những kẻ đột nhập đã bị xét xử bởi bồi thẩm đoàn, với thẩm phán John Sirica chủ trì, và nhận có tội hoặc bị phán quyết vào ngày 30 tháng Một năm 1973. [ 34 ]

Che đậy và sáng tỏ[sửa|sửa mã nguồn]

Che đậy bắt đầu[sửa|sửa mã nguồn]

lossy page1 220px Address Book of Watergate Burglar Bernard Barker%2C Discovered in a Room at the Watergate Hotel%2C June 18%2C 1972 NARA 304966.tif Sổ địa chỉ của tên đột nhập Watergate Bernard Barker, được phát hiện trong một căn phòng ở Khách sạn Watergate, ngày 18 tháng Sáu năm 1972Trong vòng vài giờ sau khi những tên đột nhập bị bắt, FBI đã phát hiện ra tên của E. Howard Hunt trong sổ địa chỉ của Barker và Martínez. Các quan chức chính quyền sở tại Nixon lo lắng vì Hunt và Liddy cũng dính líu tới một hoạt động giải trí bí hiểm riêng không liên quan gì đến nhau được gọi là ” Thợ sửa ống nước Nhà Trắng “, được xây dựng để ngăn ngừa ” rò rỉ ” bảo mật an ninh và tìm hiểu những yếu tố bảo mật an ninh nhạy cảm khác. Dean sau đó đã làm chứng rằng trợ lý số 1 của Nixon, John Ehrlichman đã ra lệnh cho anh ta ” tống khứ ” những thứ trong két sắt White House của Howard Hunt. Ehrlichman sau đó đã phủ nhận điều này. Cuối cùng thì Dean và Giám đốc FBI lâm thời L. Patrick Gray ( trong những hoạt động giải trí riêng không liên quan gì đến nhau ) đã hủy hoại vật chứng từ két sắt của Hunt .Phản ứng của riêng Nixon so với vụ đột nhập, tối thiểu là vào thời gian khởi đầu, là thiếu tín nhiệm. Công tố viên Watergate James Neal chắc như đinh rằng Nixon đã không biết trước về vụ đột nhập. Để làm dẫn chứng, ông trích dẫn một cuộc trò chuyện được ghi lại vào ngày 23 tháng Sáu giữa Tổng thống và chánh văn phòng của ông, H. R. Haldeman, trong đó Nixon hỏi, ” Thằng khốn nào đã làm điều đó ? ” [ 35 ] Tuy nhiên, Nixon sau đó ra lệnh cho Haldeman nhu yếu CIA chặn cuộc tìm hiểu của FBI về nguồn hỗ trợ vốn cho vụ đột nhập .Vài ngày sau, thư ký báo chí truyền thông của Nixon, Ron Ziegler, miêu tả sự kiện này là ” một vụ đột nhập rất tồi “. Vào ngày 29 tháng Tám, tại một cuộc họp báo, Nixon nhận định và đánh giá rằng Dean đã triển khai một cuộc tìm hiểu kỹ lưỡng về vấn đề, trong khi Dean thực sự không hề thực thi bất kể cuộc tìm hiểu nào. Nixon còn nói, ” Tôi hoàn toàn có thể nói rõ ràng rằng … không một ai trong nhân viên cấp dưới White House, không một ai trong Chính quyền này, hiện đang được tuyển dụng, dính líu đến vấn đề rất là kỳ lạ này. ” Vào ngày 15 tháng Chín, Nixon đã chúc mừng Dean, nói rằng, ” Cách anh giải quyết và xử lý nó, so với tôi, có vẻ như rất khôn khéo, chính do anh — đặt ngón tay của mình vào đê mỗi khi rò rỉ ở đây và ở đó. ” [ 22 ]

Bắt cóc Martha Mitchell[sửa|sửa mã nguồn]

Martha Mitchell là vợ của Tổng chưởng lý của Nixon, John N. Mitchell — người gần đây đã từ chức để trở thành người quản trị chiến dịch cho Ủy ban Tái bầu cử Tổng thống ( CRP ) của Nixon. John Mitchell biết rằng Martha biết McCord, một trong những tên đột nhập Watergate đã bị bắt, và biết khi phát hiện ra, cô ấy dễ hoàn toàn có thể sẽ trò chuyện với giới tiếp thị quảng cáo. Theo quan điểm của ông, việc cô biết McCord có năng lực liên kết vụ đột nhập Watergate với Nixon. John Mitchell đã thông tư cho những lính canh trong đội bảo mật an ninh của cô để không cho cô tiếp xúc với giới truyền thông online. [ 36 ]

Vào tháng Sáu năm 1972, trong cuộc điện thoại với phóng viên Helen Thomas của Báo chí Thống nhất Quốc tế, Martha Mitchell thông báo với Thomas rằng cô sẽ bỏ chồng cô cho đến khi ông ta từ chức CRP.[37] Cuộc điện thoại kết thúc đột ngột. Vài ngày sau, Marcia Kramer, một phóng viên tội phạm kỳ cựu của New York Daily News, đã theo dõi Mitchell đến Câu lạc bộ Đồng quê Westchester ở Rye, New York, và mô tả Mitchell là “một người phụ nữ bị đánh đập” với những vết bầm tím rõ ràng.[38] Mitchell báo cáo rằng, trong tuần lễ sau vụ trộm Watergate, cô đã bị giam giữ trong khách sạn Khu phức hợp Watergate, và rằng nhân viên bảo vệ Steve King đã kết thúc cuộc gọi của cô với Thomas bằng cách rút dây điện thoại khỏi tường.[38][37] Mitchell đã nhiều lần cố gắng trốn thoát qua ban công, nhưng bị dọa dẫm về mặt thân thể, bị thương và bị tiêm thuốc an thần bằng vũ lực bởi một bác sỹ tâm thần.[39][40] Sau khi bị kết án về vai trò của mình trong vụ đột nhập Watergate, vào tháng Hai năm 1975, McCord thừa nhận rằng Mitchell đã “về cơ bản bị bắt cóc”, và đã chứng thực các báo cáo của cô về sự việc này.[41]

Lần theo đường tiền[sửa|sửa mã nguồn]

Vào ngày 19 tháng Sáu năm 1972, báo chí truyền thông đưa tin rằng một trong những kẻ đột nhập Watergate là một phụ tá bảo mật an ninh của Đảng Cộng hòa. [ 42 ] Cựu tổng chưởng lý John Mitchell, khi đó là người đứng đầu CRP, đã phủ nhận mọi tương quan đến vụ đột nhập Watergate. Anh ta cũng phủ nhận bất kể hiểu biết nào về năm tên trộm. [ 43 ] [ 44 ] Vào ngày 1 tháng Tám, một tấm séc thủ quỹ trị giá 25.000 đô la ( xê dịch 153.000 đô la năm 2019 ) được phát hiện ra là đã được gửi vào thông tin tài khoản ngân hàng nhà nước bên Mỹ và Mexico của một trong những tên đột nhập Watergate, Bernard Barker. Được gửi đến ủy ban kinh tế tài chính của Ủy ban Tái bầu cử Tổng thống, tấm séc là một quyên góp vào chiến dịch năm 1972 bởi Kenneth H. Dahlberg. Số tiền này ( và một số ít tấm séc khác đã được quyên góp hợp pháp cho CRP ) đã được sử dụng trực tiếp để hỗ trợ vốn cho ngân sách những vụ đột nhập và nghe lén, gồm có cả vật tư cứng và vật tư .Nhiều doanh nghiệp trong nước và quốc tế của ông Barker đều có những thông tin tài khoản ngân hàng nhà nước riêng không liên quan gì đến nhau ; ông bị phát hiện đã cố gắng nỗ lực sử dụng chúng để che giấu nguồn gốc thực sự của số tiền được trả cho những tên đột nhập. Những tấm séc của nhà hỗ trợ vốn đã chứng tỏ mối liên hệ trực tiếp của những kẻ đột nhập với ủy ban kinh tế tài chính của CRP .Các khoản quyên góp với tổng trị giá 86.000 đô la ( 526.000 đô la ngày này ) là từ những cá thể đã tin lầm rằng họ đang quyên góp riêng tư bằng séc có ghi nhận và thủ quỹ cho công cuộc tái bầu cử của tổng thống. Kiểm tra của những nhà tìm hiểu vào lịch sử dân tộc thanh toán giao dịch ngân hàng nhà nước của một công ty ở Miami do tên đột nhập Watergate tên Barker điều hành quản lý đã cho thấy một thông tin tài khoản do đích thân anh ta trấn áp đã gửi séc và sau đó chuyển nó ( trải qua Hệ thống Thanh toán bù trừ Chi phiếu của Cục Dự trữ Liên bang ) .Các ngân hàng nhà nước xuất phát séc đều chăm sóc đến việc bảo vệ tổ chức triển khai gửi tiền được Barker sử dụng đã hoạt động giải trí đúng cách trong việc bảo vệ người nhận giao dịch thanh toán séc đã nhận và xác nhận ở đằng sau ( ký hậu ) séc, trước khi tổ chức triển khai này gật đầu gửi vào thông tin tài khoản của Bernard Barker. Chỉ bằng cách này, những ngân hàng nhà nước phát hành mới không phải chịu nghĩa vụ và trách nhiệm về việc giải phóng tiền trái phép và không chuẩn mực từ thông tin tài khoản người mua của họ .Cuộc tìm hiểu của FBI, đã xóa tội vi phạm ủy thác cho ngân hàng nhà nước của Barker, dẫn đến sự quan tâm trực tiếp giờ hướng đến những thành viên của CRP, những người đã nhận séc. Những người đó là kế toán của ủy ban và thủ quỹ của nó, Hugh Sloan .Là một tổ chức triển khai tư nhân, ủy ban đã tuân theo thông lệ kinh doanh thương mại thường thì trong việc chỉ được cho phép những cá thể được ủy quyền hợp lệ thay mặt đại diện ủy ban đồng ý và xác nhận séc. Không tổ chức triển khai kinh tế tài chính nào hoàn toàn có thể đồng ý hoặc giải quyết và xử lý séc đại diện thay mặt ủy ban trừ khi một cá thể được ủy quyền hợp lệ xác nhận. Các séc được gửi vào thông tin tài khoản ngân hàng nhà nước của Barker đã được xác nhận bởi thủ quỹ của Ủy ban, Hugh Sloan, người được chuyển nhượng ủy quyền bởi ủy ban kinh tế tài chính. Tuy nhiên, một khi Sloan đã xác nhận một chiếc séc hoàn toàn có thể được dùng để trả cho ủy ban, anh ta có nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý và được ủy thác để bảo vệ rằng séc chỉ được gửi vào những thông tin tài khoản có tên trên séc. Sloan đã không làm được điều đó. Khi đương đầu với cáo buộc gian lận ngân hàng nhà nước liên bang, ông bật mý rằng phó giám đốc ủy ban Jeb Magruder và giám đốc kinh tế tài chính Maurice Stans đã chỉ huy ông đưa tiền cho G. Gordon Liddy .

Liddy sau đó đã đưa tiền cho Barker và cố gắng che giấu nguồn gốc của nó. Barker đã cố gắng ngụy trang số tiền bằng cách gửi chúng vào tài khoản ở các ngân hàng bên ngoài Mỹ. Nhưng lịch sử các giao dịch như vậy đã được lưu trữ hết trong vòng sáu tháng mà Barker, Liddy và Sloan không hề hay biết. Việc Barker sử dụng các ngân hàng nước ngoài vào tháng Tư và tháng Năm năm 1972 để gửi séc và rút tiền thông qua séc thủ quỹ và ngân phiếu đã dẫn đến việc các ngân hàng lưu giữ toàn bộ lịch sử giao dịch cho đến tháng Mười và tháng Mười Một năm 1972.

Xem thêm: Cô gái lập kỷ lục thế giới về tóc dài sau một thập niên không cắt tóc

Tất cả năm tên đột nhập Watergate đều có tương quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến CRP năm 1972, do đó khiến Thẩm phán Sirica hoài nghi có thủ đoạn tương quan đến những quan chức abcxyz nước nhà những tầng lớp cao hơn. [ 45 ]Vào ngày 29 tháng Chín năm 1972, báo chí truyền thông đưa tin rằng John Mitchell, khi còn giữ chức vụ tổng chưởng lý, đã trấn áp một quỹ bí hiểm của Đảng Cộng hòa được sử dụng để hỗ trợ vốn cho việc tích lũy thông tin tình báo chống lại Đảng Dân chủ. Vào ngày 10 tháng Mười, Bob Woodward và Carl Bernstein báo cáo giải trình rằng FBI đã xác lập vụ đột nhập Watergate là một phần của chiến dịch gián điệp và phá hoại chính trị quy mô lớn thay mặt đại diện cho ủy ban tái bầu cử của Nixon. Bất chấp những bật mý này, chiến dịch của Nixon chưa khi nào đã bị rình rập đe dọa nghiêm trọng ; vào ngày 7 tháng Mười Một, Tổng thống đã tái đắc cử trong một trong những cuộc bầu cử ” long trời lở đất ” ( cuộc bầu cử mà trong đó một ứng cử đạt được 1 số ít phiếu Đại cử tri lớn hơn rất nhiều so với bên đối thủ cạnh tranh ) lớn nhất trong lịch sử dân tộc chính trị Hoa Kỳ .

Vai trò của truyền thông online[sửa|sửa mã nguồn]

Mối liên hệ giữa cuộc đột nhập và ủy ban tái bầu cử được làm nổi bật bởi truyền thông đưa tin—đặc biệt là tin bài điều tra của Tờ Washington Post, Tạp chí TimeThe New York Times. Các bản báo cáo này đã tăng lên đáng kể tính công khai và hậu quả chính trị và pháp lý sau này. Dựa nhiều vào các nguồn ẩn danh, các phóng viên của Tờ Washington Post Bob Woodward và Carl Bernstein đã hé mở thông tin ám chỉ rằng các cấp trên của Bộ Tư Pháp, FBI, CIA, và Nhà Trắng biết về vụ đột nhập và những nỗ lực để che đậy nó. Woodward và Bernstein đã phỏng vấn Judy Hoback Miller (kế toán cho chiến dịch tái tranh cử của Nixon), người đã tiết lộ cho họ thông tin về việc các quỹ bị xử lý sai và hồ sơ sổ sách bị phá hủy.[46][1]

220px Watergate garage with historic marker Ga-ra ở Rosslyn — nơi mà Woodward và Felt gặp nhau. Cũng hoàn toàn có thể thấy là biển thông tin lịch sử dân tộc được hạt dựng lên để lưu lại ý nghĩa của nó .

Đứng đầu trong số các nguồn ẩn danh của Tờ Post là một cá nhân mà bị Woodward và Bernstein đặt biệt danh là Deep Throat; 33 năm sau, vào năm 2005, người này được xác định là William Mark Felt, Sr. (Phó Giám đốc FBI trong thời kỳ đó của thập niên 1970), Woodward sau đó đã xác nhận điều này. Felt đã bí mật gặp Woodward vài lần, nói với anh ta về dính líu của Howard Hunt với vụ đột nhập Watergate, và về việc các nhân viên Nhà Trắng coi vụ Watergate là rất nguy hiểm nếu lộ ra. Felt cảnh báo với Woodward rằng FBI muốn biết anh ta và các phóng viên khác đang lấy thông tin của mình ở đâu, vì họ đang tiết lộ một mạng lưới tội phạm quy mô rộng lớn hơn so với những gì FBI đã tiết lộ ban đầu. Tất cả các cuộc gặp gỡ bí mật giữa Woodward và Felt đều diễn ra tại một ga-ra để xe dưới hầm ở Rosslyn trong khoảng thời gian từ tháng Sáu năm 1972 đến tháng Một năm 1973. Trước khi từ chức FBI vào ngày 22 tháng Sáu năm 1973, Felt cũng đã ẩn danh làm rò rỉ vụ Watergate với tạp chí Time, The Washington Daily News và các xuất bản khác.[1][47]

Trong thời kỳ đầu này, hầu hết truyền thông đều không hiểu hết những hệ quả vụ bê bối có thể kéo theo, và chỉ tập trung đưa tin về các chủ đề khác liên quan đến cuộc bầu cử tổng thống năm 1972.[48] Hầu hết các phương tiện truyền thông đều bỏ qua hoặc đánh giá thấp thông tin mà Woodward và Bernstein có được; các tờ báo xuyên thành phố Washington Star-NewsLos Angeles Times thậm chí còn đăng những câu chuyện làm mất uy tín của các bài báo của Post một cách không chính xác. Sau khi tờ Post tiết lộ rằng H.R. Haldeman đã thực hiện các khoản thanh toán từ quỹ bí mật, các tờ báo như Chicago TribunePhiladelphia Inquirer đã không công bố thông tin này, nhưng đã công bố việc Nhà Trắng phủ nhận về câu chuyện đó vào ngày hôm sau.[49] Nhà Trắng cũng tìm cách cô lập đưa tin của tờ Post bằng cách liên tiếp tấn công tờ báo đó không mỏi mệt trong khi từ chối chỉ trích những câu chuyện gây tổn hại khác về vụ bê bối từ Tờ New York Times và Tạp chí Time.[49][1]

Sau khi biết rằng một trong những tên đột nhập bị kết án đã viết thư cho Thẩm phán Sirica khẳng định rằng có một cuộc che đậy cấp cao, truyền thông đã chuyển sự chú ý của mình. Tạp chí Time miêu tả Nixon đang trải qua “địa ngục hàng ngày và rất ít ai tin tưởng”. Báo chí và chính quyền Nixon ngờ vực lẫn nhau và lớn hơn bình thường do sự bất mãn kéo dài với các sự kiện từ Chiến tranh Việt Nam. Đồng thời, ngờ vực của công chúng đối với các phương tiện truyền thông là hơn 40% sau khi thăm dò ý kiến.[48]

Nixon và các quan chức chính quyền hàng đầu đã thảo luận về việc sử dụng các cơ quan abcxyz để “tóm” (trả đũa) những người mà họ coi là các tổ chức truyền thông thù địch.[48] Những hành động như vậy đã được thực hiện trước đây rồi: theo yêu cầu của Nhà Trắng thời Nixon vào năm 1969, FBI đã nghe lén điện thoại của 5 phóng viên; năm 1971, Nhà Trắng yêu cầu kiểm toán khai thuế của tổng biên tập Tờ Newsday, sau khi ông này đã viết một loạt bài về các thương vụ tài chính của Charles “Bebe” Rebozo—một người bạn của Nixon.[50]

Chính quyền và những người ủng hộ đã cáo buộc giới truyền thông online đưa ra ” những buộc tội ngông cuồng “, nhấn mạnh vấn đề câu truyện quá nhiều và có thành kiến chủ nghĩa tự do cánh tả chống lại Chính quyền. [ 1 ] [ 48 ] Nixon, trong một cuộc phỏng vấn tháng Năm năm 1974, nói với người ủng hộ Baruch Korff rằng nếu ông tuân theo những chủ trương cánh tả mà ông cho rằng giới truyền thông online ưa thích, thì ” Watergate đã là một chuyện nhỏ. ” [ 51 ] Các phương tiện đi lại tiếp thị quảng cáo nói rằng hầu hết những báo cáo giải trình hóa ra đã đúng chuẩn ; thực chất cạnh tranh đối đầu của tiếp thị quảng cáo đã bảo vệ đưa tin thoáng rộng về vụ bê bối chính trị sâu rộng. [ 48 ]Đơn xin vào những trường nghề báo đạt đỉnh điểm vào năm 1974. [ 48 ]

Bê bối leo thang[sửa|sửa mã nguồn]

Thay vì kết thúc bằng bản án và phán quyết tù năm tên đột nhập Watergate vào ngày 30 tháng Một năm 1973, tìm hiểu về vụ đột nhập và dính líu của Chính quyền Nixon ngày càng lan rộng ra thêm. ” Các cuộc trò chuyện của Nixon vào cuối tháng Ba và cả tháng Tư năm 1973 bật mý rằng ông ấy không những biết mình cần không bổ nhiệm Haldeman, Ehrlichman và Dean tránh xa họ, mà còn biết phải làm như thế nào để ít có năng lực làm ông và nhiệm kỳ của ông bị kết tội nhất. Nixon đã tạo ra một thủ đoạn mới — để che đậy thủ đoạn che đậy trước đó — khởi đầu vào cuối tháng Ba năm 1973 và hoàn hảo vào tháng Năm và tháng Sáu năm 1973 cho đến khi nhiệm kỳ tổng thống của ông kết thúc vào ngày 9 tháng Tám năm 1974. ” [ 52 ] Vào ngày 23 tháng Ba năm 1973, Thẩm phán Sirica đọc một lá thư của tên đột nhập Watergate James McCord trước tòa, trong đó chứng minh và khẳng định rằng đã có khai man trong phiên tòa xét xử Watergate, và những bị cáo bị ép phải giữ im re. Để thử làm họ nói thêm, Sirica đã tuyên cho Hunt và hai tên đột nhập bản án trong thời điểm tạm thời lên đến 40 năm .Bị Nixon giục, vào ngày 28 tháng Ba, trợ lý John Ehrlichman nói với Tổng chưởng lý Richard Kleindienst rằng không ai trong Nhà Trắng biết trước về vụ đột nhập. Vào ngày 13 tháng Tư, Magruder nói với những luật sư Hoa Kỳ rằng anh ta đã chính mình khai man trong phiên tòa xét xử xét xử những tên đột nhập, và làm lộ tội của John Dean và John Mitchell. [ 22 ]John Dean tin rằng anh ta, Mitchell, Ehrlichman và Haldeman hoàn toàn có thể đến gặp những công tố viên, nói thực sự và cứu lấy chức vụ tổng thống. Dean muốn bảo vệ tổng thống và muốn 4 người thân cận nhất của ông ta chịu tội thay sau khi khai tội. Trong cuộc họp quan trọng giữa Dean và Nixon vào ngày 15 tháng Tư năm 1973, Dean không hề biết rằng tổng thống đã biết về và dính líu vào vụ che giấu Watergate nhiều đến mức nào. Trong cuộc họp này, Dean cảm thấy rằng mình đang bị ghi âm. Anh ta tự hỏi liệu anh nghĩ như vậy có phải là do cách nói của Nixon không, vì Nixon đang nói như thể ông ta đang cố gắng nỗ lực khơi gợi trí nhớ của những người tham gia buổi họp về những cuộc trò chuyện trước đó về yếu tố gây quỹ. Dean đã đề cập đến điều này trong khi làm chứng trước Ủy ban Thượng viện Watergate, từ đó vạch trần một chuỗi những cuộc trò chuyện bị ghi âm mà sau này sẽ làm rõ thực chất của thủ đoạn. [ 53 ]Hai ngày sau, Dean nói với Nixon rằng anh ta đã hợp tác với những luật sư Hoa Kỳ. Cùng ngày hôm đó, những luật sư Hoa Kỳ nói với Nixon rằng Haldeman, Ehrlichman, Dean và những quan chức White House khác có tương quan đến vụ che đậy. [ 22 ] [ 54 ] [ 55 ]Vào ngày 30 tháng Tư, Nixon nhu yếu Haldeman và Ehrlichman, hai phụ tá có ảnh hưởng tác động nhất của ông, từ chức. Cả hai sau đó đều bị truy tố, kết tội và ở đầu cuối bị phán quyết tù. Ông cũng nhu yếu Tổng chưởng lý Kleindienst từ chức, để bảo vệ không ai hoàn toàn có thể khẳng định chắc chắn rằng tình bạn vô tội của ông với Haldeman và Ehrlichman hoàn toàn có thể bị coi là xung đột quyền lợi. Ông đã sa thải Cố vấn Nhà Trắng John Dean, người đã liên tục ra làm chứng trước Ủy ban Watergate của Thượng viện và nói ông tin và hoài nghi rằng những lần trò chuyện trong Văn phòng Bầu dục bị ghi âm. Thông tin chấn động này đã buộc Richard Nixon phải từ chức thay vì bị luận tội. [ 56 ]

Ehrlichman viết từ trong tù cho các tạp chí New WestNew York năm 1977 và khai rằng Nixon đã đề nghị cho anh ta một khoản tiền lớn, nhưng anh từ chối.[57]

Tổng thống đã công bố những vụ từ chức trong một bài phát biểu cho người dân Mỹ :

Trong một trong những quyết định hành động khó khăn vất vả nhất trong nhiệm kỳ Tổng thống của tôi, tôi đã đồng ý việc từ chức của hai tập sự thân cận nhất của tôi trong Nhà Trắng, Bob Haldeman, John Ehrlichman, hai trong số những quan chức giỏi nhất mà tôi suôn sẻ được biết. Bởi vì Tổng chưởng lý Kleindienst, mặc dầu là một quan chức xuất sắc ưu tú, người bạn thân của tôi trong 20 năm, không dính líu nào trong vụ này, lại là tập sự cá thể và việc làm thân thiện với 1 số ít người có tương quan đến vụ án này, thế cho nên ông ấy và tôi đều cảm thấy rằng nó cũng thiết yếu để cho người khác làm Tổng chưởng lý mới. Cố vấn cho Tổng thống, John Dean, cũng đã từ chức. [ 58 ]

Cùng ngày 30 tháng Tư, Nixon chỉ định một tổng chưởng lý mới, Elliot Richardson, và trao cho ông quyền chỉ định một cố vấn đặc biệt quan trọng cho cuộc tìm hiểu Watergate, người sẽ không chịu ràng buộc vào với mạng lưới hệ thống phân cấp thường thì của Bộ Tư pháp. Vào tháng Năm năm 1973, Richardson chỉ định Archibald Cox vào vị trí này. [ 22 ]

Các phiên điều trần Watergate của Thượng viện và bật mý những cuộn băng Watergate[sửa|sửa mã nguồn]

Vào ngày 7 tháng Hai năm 1973, Thượng viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu 77 – 0 để trải qua nghị quyết S.Res. 60 của Quốc hội khóa 93 và xây dựng một ủy ban tinh lọc để tìm hiểu Watergate, với Sam Ervin được chỉ định làm quản trị vào ngày hôm sau. [ 22 ] Các phiên điều trần do ủy ban Thượng viện tổ chức triển khai, trong đó có Dean và những cựu quan chức chính quyền sở tại khác làm chứng, được phát sóng từ 17 tháng Năm đến 7 tháng Tám. Ba kênh truyền hình lớn vào thời gian đó đã chấp thuận đồng ý thay phiên nhau đưa tin trực tiếp về những phiên điều trần, mỗi kênh do đó đã đưa tin phiên điều trần cứ ba ngày một, mở màn với ABC vào 17 tháng Năm và kết thúc với NBC vào 7 tháng Tám. Ước tính có khoảng chừng 85 % dân Mỹ có tivi đã xem tối thiểu một phần của những phiên điều trần. [ 59 ]Vào thứ Sáu, ngày 13 tháng Bảy, trong một cuộc phỏng vấn sơ bộ, phó cố vấn đảng thiểu số Donald Sanders đã hỏi trợ lý Nhà Trắng Alexander Butterfield liệu có bất kể loại mạng lưới hệ thống ghi âm nào trong White House không. [ 60 ] Butterfield cho biết ông miễn cưỡng vấn đáp, nhưng sau cuối đã thừa nhận có một mạng lưới hệ thống mới trong White House tự động hóa ghi lại mọi thứ trong Văn phòng Bầu dục, Phòng Nội các và những nơi khác, gồm có văn phòng riêng của Nixon trong Tòa nhà Văn phòng Điều hành Cũ .Vào thứ Hai, ngày 16 tháng Bảy, khi đang bị quay truyền hình trực tiếp, trưởng cố vấn đảng thiểu số Fred Thompson đã hỏi Butterfield rằng liệu ông có ” biết về việc lắp ráp bất kể thiết bị nghe nào trong Văn phòng Bầu dục của tổng thống không ” trước một người theo dõi. Tiết lộ của Butterfield về mạng lưới hệ thống ghi âm đã biến hóa cuộc tìm hiểu Watergate. Cox ngay lập tức trát hầu tòa những đoạn băng ; Thượng viện cũng làm vậy, nhưng Nixon đã khước từ công bố chúng, lấy cớ độc quyền hành pháp của mình với tư cách là tổng thống, và ra lệnh cho Cox hủy trát đòi hầu tòa của mình. Cox khước từ. [ 61 ]

Thảm sát Đêm Thứ Bảy[sửa|sửa mã nguồn]

Vào ngày 20 tháng Mười năm 1973, sau khi Cox từ chối bỏ trát hầu tòa, Nixon ra lệnh cho Tổng chưởng lý Elliot Richardson sa thải công tố viên đặc biệt quan trọng. Richardson từ chức để phản đối thay vì thực thi mệnh lệnh này. Nixon sau đó ra lệnh cho Phó Tổng chưởng lý William Ruckelshaus sa thải Cox, nhưng Ruckelshaus cũng từ chức chứ không sa thải ông ta. Nixon ở đầu cuối dừng việc tìm người chuẩn bị sẵn sàng sa thải Cox sau khi tìm thấy Tổng biện lý sự vụ Robert Bork. Mặc dù Bork nói ông tin rằng mệnh lệnh của Nixon là chính đáng và tương thích, ông vẫn đã xem xét từ chức để tránh bị ” coi là người đã triển khai mệnh lệnh của Tổng thống để cứu việc làm của mình “. [ 62 ] Bork thực thi mệnh lệnh của tổng thống và không bổ nhiệm công tố viên đặc biệt quan trọng .

Những hành động này bị công chúng chỉ trích đáng kể. Trả lời các cáo buộc về những hành vi có thể bị coi là sai trái của ông, vào ngày 17 tháng Mười Một năm 1973, trước 400 biên tập viên quản lý của Associated Press tại Khu nghỉ dưỡng Đương đại của Disney,[63][64] Nixon dứt khoát tuyên bố: “Chà, tôi không phải là một thằng lừa đảo.”[65][66] Ông cần phải cho phép Bork bổ nhiệm một công tố viên đặc biệt mới; Bork đã chọn Leon Jaworski để tiếp tục cuộc điều tra.

Xem thêm: Hướng dẫn cách giải Rubik tam giác (Pyraminx) cho người mới

Hành động pháp lý chống lại những thành viên Chính quyền Nixon[sửa|sửa mã nguồn]

Vào ngày 1 tháng Ba năm 1974, một đại bồi thẩm đoàn ở Washington, D.C. đã truy tố một số ít cựu trợ lý của Nixon, sau này được gọi là ” Bảy Watergate “. Trong này gồm có H.R. Haldeman, John Ehrlichman, John N. Mitchell, Charles Colson, Gordon C. Strachan, Robert Mardian và Kenneth Parkinson vì đã lên thủ đoạn cản trở cuộc tìm hiểu Watergate. Đại bồi thẩm đoàn bí hiểm để Nixon là đồng phạm không truy tố. Công tố viên đặc biệt quan trọng đã can ngăn họ đừng ra bản cáo trạng chống lại Nixon và lập luận rằng một tổng thống chỉ hoàn toàn có thể bị truy tố sau khi ông ta từ chức. [ 67 ] John Dean, Jeb Stuart Magruder, và những người khác đã nhận tội. Vào ngày 5 tháng Tư năm 1974, Dwight Chapin, cựu thư ký thiết lập lịch họp của Nixon, bị kết tội nói dối trước bồi thẩm đoàn. Hai ngày sau, chính đại bồi thẩm đoàn đó đã truy tố Ed Reinecke, Trung úy Thống đốc Đảng Cộng hòa của California, vì ba buộc tội khai man trước ủy ban Thượng viện .

Công bố những bản ghi chép cuộn băng ghi âm[sửa|sửa mã nguồn]

220px Nixon E2679c 09A Tổng thống Nixon lý giải về việc công bố bản ghi đã bị chỉnh sửa, ngày 29 tháng Tư năm 1974Chính quyền Nixon đã phải vật lộn để quyết định hành động xem sẽ phát hành những tài liệu nào. Mọi bên dính líu đều đã chấp thuận đồng ý rằng tổng thể những thông tin tương quan nên được bật mý. Những những cố vấn của Tổng thống chia rẽ về việc có nên công bố những lời tục tĩu và thô tục chưa được chỉnh sửa hay không. Nhóm pháp lý của ông ủng hộ việc phát hành những đoạn băng chưa được chỉnh sửa, trong khi Thư ký Báo chí Ron Ziegler thích sử dụng phiên bản đã chỉnh sửa và ” đã xóa lời bậy ” để thay thế sửa chữa tài liệu thô. Sau nhiều tuần tranh luận, họ quyết định hành động công khai minh bạch phiên bản đã được chỉnh sửa. Nixon công bố việc phát hành bản ghi chép trong một bài phát biểu trước cả nước vào ngày 29 tháng Tư năm 1974. Nixon có nói thêm rằng bất kể trao đổi nào tương quan đến thông tin bảo mật an ninh vương quốc đều hoàn toàn có thể đã được chỉnh sửa và biên tập lại từ những băng đã phát hành. [ 68 ]

Các nhân vật tương quan[sửa|sửa mã nguồn]

  • Howard Baker
  • Alfred Baldwin (Watergate)
  • Alexander Barkan
  • Richard Ben-Veniste
  • Robert Foster Bennett
  • Hale Boggs
  • Robert Bork
  • Benjamin C. Bradlee
  • Pat Buchanan
  • Alexander Butterfield
  • William Byrne
  • Dwight Chapin
  • Charles Colson
  • John Conyers
  • Archibald Cox
  • Kenneth H. Dahlberg
  • Maxwell Dane
  • Samuel Dash
  • David Young (Watergate)
  • Sidney Davidoff
  • John Dean
  • Deep Throat
  • Ron Dellums
  • John Doar
  • S. Harrison Dogole
  • Charles Dyson
  • John Ehrlichman
  • Daniel Ellsberg
  • Sam Ervin
  • Bernard T. Feld
  • W. Mark Felt
  • Fred F. Fielding
  • Gerald Ford
  • William Gaines (professor)
  • Leonard Garment
  • Sam Garrison
  • Seymour Glanzer
  • Katharine Graham
  • L. Patrick Gray
  • Ed Guthman
  • Alexander Haig
  • H. R. Haldeman
  • Halloween Massacre
  • Morton Halperin
  • Sally Harmony
  • Richard Helms
  • Howard Hughes
  • William L. Hungate
  • Leon Jaworski
  • Herbert W. Kalmbach
  • Egil Krogh
  • Samuel M. Lambert
  • Angelo Lano
  • Fred LaRue
  • G. Gordon Liddy
  • Allard K. Lowenstein
  • Mary McGrory
  • Jeb Stuart Magruder
  • Robert Mardian
  • James W. McCord, Jr.
  • Cord Meyer
  • John N. Mitchell
  • Stewart Rawlings Mott
  • S. Sterling Munro, Jr.
  • Richard Nixon
  • Bernard W. Nussbaum
  • Larry O’Brien
  • Robert C. Odle, Jr.
  • John Paisley
  • Kenneth Parkinson
  • Arnold Picker
  • Herbert Porter
  • Raymond Price (speechwriter)
  • Charles Rebozo
  • Elliot Richardson
  • Peter W. Rodino
  • William Ruckelshaus
  • Charles Ruff
  • Daniel Schorr
  • Donald Segretti
  • John Sirica
  • Hugh W. Sloan, Jr.
  • Maurice Stans
  • Ben Stein
  • Howard Stein
  • Gordon C. Strachan
  • Jerald terHorst
  • Fred Thompson
  • Watergate scandal
  • Frank Wills (security guard)
  • Leonard Woodcock
  • Rose Mary Woods
  • Ron Ziegler

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Tiếng Anh
Tiếng Việt