15 ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN ASEAN VÀ NÔNG SẢN VIỆT NAM – Tài liệu text mới nhất

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản không thiếu của tài liệu tại đây ( 537.75 KB, 74 trang )

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Vũ Minh Trai

vùng khí hậu Duyên Hải Nam Trung Bộ. Vùng Bắc Trung Bộ là vùng Bắc đèo Hải

Vân, về mùa đông do bị ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc cộng thêm bị dãy núi

Trường Sơn tương đối cao ở phía Tây ( dãy Phong Nha – Kẽ Bàng) và phía Nam

(tại đèo Hải Vân trên dãy Bạch Mã) chắn ở cuối hướng gió mùa Đông Bắc. Nên vì

vậy vùng này thường lạnh nhiều vào Đông và thường kèm theo mưa nhiều, do gió

mùa thổi theo đúng hướng Đông Bắc mang theo hơi nước từ biển vào, hơi khác biệt

với thời tiết khô hanh của miền Bắc cùng trong mùa đông. Về mùa Hè, lúc này do

không còn hơi nước nên gió mùa Tây Nam gây ra thời tiết khô nóng (có khi tới > 40

°C, độ ẩm không khí thấp), gió này gọi là gió Lào.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ

phía Nam đèo Hải Vân nóng quanh năm.

Qua những đặc điểm trên ta có thể thấy được khí hậu Việt Nam rất thuận lợi

cho việc sản xuất nông nghiệp và tạo ra các mặt hàng nông sản đặc biệt là những

mặt hàng nông sản nhiệt đới gió mùa đặc trưng.

1.1.2. Đặc trưng của nông sản Việt Nam

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang lại những cơ hội to lớn cho Việt Nam

trong việc mở rộng thị trường nông sản xuất khẩu. Hiện nay tỷ trọng hàng nông,

lâm sản xuất khẩu của Việt Nam chiếm khoảng 30% – 34% tổng sản lượng nông

sản, trong đó lúa gạo chiếm khoảng 20%, cà-phê – 95%, cao-su – 85%, hạt điều 90%, chè – 80%, hạt tiêu – 96%… Một số nông sản của Việt Nam đã khẳng định

được vị thế trên thị trường thế giớ (như gạo, cà-phê, hạt điều, hạt tiêu).

Thực tế là trong những năm gần đây gạo, cà phê, tiêu, điều, ….tiếp tục là những

nông sản giữ vị trí quan trọng trong kinh tế nông nghiệp nói riêng và toàn nền kinh

tế nói chung bên cạnh các sản phẩm triển vọng từ ngành lâm nghiệp. Ngành nông

nghiệp đặt mục tiêu đến năm 2015, xuất khẩu nông sản đạt 22,5 tỷ USD, riêng năm

2011 là 19 tỷ USD. Theo đó, ngành nông nghiệp Việt Nam tập trung thúc đẩy sản

xuất, kinh doanh nhằm duy trì mức tăng trưởng cao (từ 3,5% đến 3,8%/năm) để góp

phần quan trọng vào tăng trưởng chung của nền kinh tế, kiềm chế lạm phát, tạo

SV: Đào Trọng Nghĩa

4

Lớp: CN&XD49B

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Vũ Minh Trai

chuyển biến mạnh mẽ về năng suất, chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm và sức

cạnh tranh.

Trong đó, ngành nông nghiệp tập trung thực hiện tiêu chuẩn VietGAP, được

xây dựng trên cơ sở thừa kế các tiêu chuẩn GAP đề ra trước đó.

Ngoài ra Việt Nam xuất thân từ một đất nước nông nghiệp với sản lượng cà phê,

gạo, hạt điều, chè đều đứng hàng đầu trên thế giới. Vậy Việt Nam có nên định vị

thương hiệu quố gia bằng những sản phẩm nông nghiệp chủ đạo đó?

Một điều chắc chắn rằng, nếu được định vị là “kho lương thực” của thế giới thì

thương hiệu nông sản của Việt Nam sẽ có chỗ đứng vững chắc và hoàn toàn có thể

cạnh tranh trên toàn cầu. Tuy nhiên, để làm được điều này không hề dễ dàng. Đầu

tiên là phải giải quyết năng lực và ý thức về xây dựng thương hiệu của chính ngay

các

doanh

nghiệp

chế

biến

xuất

khẩu

nông

sản

Việt

Nam.

Ông Lê Đăng Doanh – chuyên viên kinh tế cao cấp – đã từng cho rằng, xây dựng

chiến lược thương hiệu của doanh nghiệp Việt Nam rất kém, chỉ có 32% DN trong

tổng số các DN xuất khẩu nông sản có chiến lược cụ thể, 45% không có chiến lược

cụ thể, 49% không quan tâm với lý do hàng vẫn bán và doanh số vẫn tăng.

Nông sản Việt Nam khi thu hoạch thường có chất lượng cao nhưng do không

được bảo quản dự trữ và chế biến đúng quy cách, kỹ thuật nên khi xuất khẩu thì

thường xuất khẩu hàng thô hoặc qua sơ chế hay có được chế biến thì chất lượng sản

phẩm không cao, không đạt các tiêu chuẩn do vậy thường bán với giá rẻ.

Hàng nông sản phụ thuộc rất lớn vào thời tiết, khí hậu, địa lý… Năm nào có

mưa thuận gió hoà thì cây cối phát triển, năng suất cao, hàng nông sản được bày

bán tràn ngập trên thị trường. Năm nào thời tiết khắc nghiệt, bão, lũ lụt xảy ra

thường xuyên nông sản mất mùa lúc đó thì hàng nông sản khan hiếm, chất lượng lại

không cao, do không có hàng bán nên cung nhỏ hơn cầu, lúc này giá bán lại rất cao.

Hàng nông sản chủ yếu là phục vụ nhu cầu ăn uống của người tiêu dùng cuối vì thế

chất lượng của nó tác động trực tiếp tới tâm lý, sức khoẻ người tiêu dùng trong khi

đó khâu bảo quản, dự trữ chế biến hàng nông sản của nước ta vừa thiếu lại vừa yếu

SV: Đào Trọng Nghĩa

5

Lớp: CN&XD49B

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Vũ Minh Trai

nên hàng nông sản của Việt Nam khi bán trên thị trường thì giá thường thấp hơn các

nước trong khu vực và thế giới.

Ngoài ra một đặc điểm yếu nữa của doanh nghiệp Việt Nam là tính đoàn kết

trong chia sẻ lợi nhuận yếu, vì thế không liên kết được với nhau trong xây dựng

chiến lược tạo thương hiệu lâu dài. Điều này cũng lý giải cho câu hỏi chưa có lời

giải: Vì sao thương hiệu nông sản Việt vẫn mờ nhạt là một trong những đặc trưng

cơ bản của nông sản Việt Nam hiện nay.

Một đặc điểm nữa là kinh tế nông thôn có những bước chuyển biến khá, đời

sống nông dân ở nhiều vùng được cải thiện, nhưng vấn đề nổi bật là các loại sản

phẩm này có chất lượng thấp, tổ chức tiêu thụ còn nhiều yếu kém, thường xuyên

xảy ra tình trạng, nhiều khi tiêu thụ không kịp, nhất là trong vụ thu hoạch, giá cả

xuống thấp gây thiệt hại cho nông dân. Tình trạng này kéo dài làm cho người làm

nông sản buộc phải chuyển đổi các loại cây trồng, hoặc quy về sản xuất tự cung tự

cấp, hoặc chuyển sang nghề kia.

Qua những yếu tố trên đây có thể nói tình hình sản xuất hàng nông sản của Việt

Nam vẫn mang tính chất của nền sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp và mới đang trong quá

trình chuyển sang nền sản xuất hàng hóa, năng suất lao động thấp do đó kéo dài thời

gian sản xuất sản phẩm nên không tạo được sức cạnh tranh trên thị trường

1.2. Đặc trưng về thị trường tiêu thụ nông sản ở các nước Asean

* Về văn hoá

Các nước Asean đều có những điểm tương đồng về văn hoá. Đặc biệt các

nước Asean đều có nền văn hoá truyền thống đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc,có

lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước,văn hoá là di sản được kế thừa từ cha ông

qua cả quá trình lịch sử,là tổng thể những hiểu biết về phong tục tập quán ,về trí tuệ

và vật chất.Văn hoá trong Asean có những đặc trưng sau :

-Đánh giá cao tính kiên nhẫn, lòng kính trọng với địa vị, thân thế (tuổi tác,

danh tiếng…), năng lực chuyên môn.

SV: Đào Trọng Nghĩa

6

Lớp: CN&XD49B

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Vũ Minh Trai

-Tự hào về dân tộc mình và kính trọng truyền thống dân tộc của mình :mỗi

một nước đều có một nghi thức, tập tục truyền thống khác nhau nhưng tất cả họ đều

tự hào và kính trọng truyền thống dân tộc của họ.

-Văn hoá kinh doanh có tính cạnh tranh cao và có đạo đức kinh doanh.

-Đều có xuất phát điểm là nền văn minh lúa nước, con người cần cù chịu

khó,có tinh thần trách nhiệm, uy tín ,thân thiện…

-Mỗi quốc gia đều có rất nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, mỗi dân tộc

sử dụng một ngôn ngữ riêng,tạo nên sự đa dạng trong ngôn ngữ.

* Về xã hội

Các nước Asean có đặc điểm xã hội khá giống nhau, vừa có cùng nền văn

minh lúa nước, lại cùng nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa dẫn đến có nhiều nét

tương đồng trong sản xuất và sinh hoạt, vừa có sự đa dạng trong văn hoá, tín

ngưỡng trong từng dân tộc Trước chiến tranh thế giời thứ hai và ngay trong thế

chiến thứ 2 các nước Asean đều bị các đế quốc lớn xâm chiếm.Do đó các nước có

cùng lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc. Tất cả những nét tương đồng trên là

những điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác toàn diện giữa các nước.

* Về địa lý sinh thái.

Nằm giữa Thái Bình Dương và ấn Độ Dương, và là đầu mối cửa ngõ giao

thông quan trọng, các nước Asean có điều kiện để phát triển mở rộng hợp tác giao

lưu, văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội với nhau và các nước trên thế giới. Chính vì

vậy, việc đi lại trao đổi mua bán rất thuận lợi trở thành một trong những sợi dây liên

kết khu vực Đông Nam á.

* Về kinh tế.

Các nước thành viên Asean đã có chương trình về hợp tác kinh tế. Thực tế cho

thấy về mặt kinh tế, tổ chức kinh tế khu vực có tác dụng thúc đẩy sự hợp tác kinh tế,

buôn bán và phân công lao động. Kinh tế các nước Asean hầu hết thuộc loại đang

phát triển trừ có Singapore. Thu nhập bình quân đầu người giữa các nước chênh

SV: Đào Trọng Nghĩa

7

Lớp: CN&XD49B

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Vũ Minh Trai

lệch khá lớn. Đối với các nước như Malaysia, Thái Lan, Singapore, Brunei là những

nước phát triển nhất trong khối có thu nhập bình quân đầu người trên 3000 USD.

Hai nước Inđônêxia ,Philipin có thu nhập bình quân đầu người trên 1000 USD. Sáu

nước trên có thu nhập bình quân đầu người cao hơn rất nhiều so với các nước còn

lại như Việt Nam, Lào, Campuchia, và Mianma.

Trong những năm qua, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (Asean) đã không

ngừng đẩy mạnh hợp tác mọi mặt giữa các nước thành viên. Tháng 1 năm 1992, các

nước Asean đã đi đến quyết định thành lập khu mậu dịch tự do Asean (AFTA)

thông qua việc ký kết hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung

(CEPT) nhằm đưa nền kinh tế khu vực này thành một cơ sở sản xuất thống nhất với

một thị trường rộng lớn với trên 500 triệu dân, tỷ lệ tăng dân số trung bình 2,05%

thì đây thực sự là một thị trường tiêu thụ rất lớn.

* Về chính trị

Tình hình chính trị ở các nước Asean nói chung là khá ổn định thuận lợi

cho việc thúc đẩy hoạt động thương mại giữa các nước. Các nước Asean phần

lớn theo chế độ đa đảng nhưng lại có tinh thần đoàn kết giúp đỡ các nước thành

viên trong các vấn đề quốc tế nhằm nâng cao hơn nữa vị thế của khối Asean trên

trường quốc tế

Với những nét tương đồng về đặc điểm văn hóa xã hội cũng như việc gần gũi

về mặt địa lý và sự ổn định về chính trị thì thị trường Asean là một thị trường lớn

đầy tiềm năng với trên 500 triệu dân. Tuy nhiên việc có cùng đặc điểm là đều đi lên

từ nền văn minh lúa nước với nền nông nghiệp là chủ đạo thì việc cạnh tranh cũng

trở lên khốc liêt hơn bao giờ hết đỏi hỏi phải có những chính sách và bước đi đúng

đắn để có thể thúc đẩy được việc xuất khẩu sang các nước Asean cũng như khẳng

định vị thế của các sản phẩm của nước ta trên khu vực cũng như toàn thế giới.

1.3 Nhu cầu của thị trường Asean về hàng nông sản Việt Nam

Với một thị trường với dân số lên tới trên 500 triệu dân thì nhu cầu về việc ăn

uống cũng như tiêu thụ sản phẩm là rất lớn và không phải nước nào cũng có thể đáp

SV: Đào Trọng Nghĩa

8

Lớp: CN&XD49B

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Vũ Minh Trai

ứng được hết các nhu cầu chính vì vậy nhu cầu nhập khẩu các mạt hàng nông sản từ

nước khác là tất yếu,tuy nhiên với nên kinh tế khá phát triển Singapo, Thái Lan,

Indonesia ,Malaisia ngoài việc nhập khẩu các mặt hàng nông sản của nước ta để

phục vụ nhu cầu còn nhập khẩu các nông sản thô để về tự chế biến. Mặc dù các nước

Asean đều chú trọng tới việc phát triển nông nghiệp nhưng nhu cầu về việc nhập

khẩu hàng nông sản từ Việt Nam vẫn là rất lớn ví dụ như : Indonesia hàng năm nhập

khoảng 2 triệu tấn gạo từ Việt Nam, Philipin, Malaisia, cũng nhập một lượng lớn gạo

và các mặt hàng nông sản từ Việt Nam. Trung bình tỉ trọng xuất khẩu hàng nông sản

của Việt Nam sang các nước Asean chiếm khoảng 20% với các mặt hàng chủ yếu là

gạo, cà phê, hạt tiêu, cao su, lạc, hạt điều và gần đây là các mặt hàng mới như cơm

dừa….Trong đó Singapo là nước có lượng nhập khẩu lớn nhất với tỷ trọng từ 60%70% theo sau đó là Campuchia, Philipin, Malaisia, Thái Lan, Lào.

Tóm lại nhu cầu về nông sản Việt Nam của thị trường Asean là rất lớn. Ngoài

nhu cầu nông sản phục vụ hàng ngày thì các nước này còn có nhu cầu nhập khẩu

nông sản thô để mang về chế biến trong nước rồi tái xuất sang các nước khác.

Nhưng bên cánh đó lá sự cạnh tranh rất khốc liệt giữa các nước với các mặt hàng

giống nhau vì vậy cần phải nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng tính cạnh tranh

cho các sản phẩm nông sản.

2.CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG MARKETING SẢN

PHẨM NÔNG SẢN XUÂT KHẨU CỦA CÔNG TY

2.1. Các công cụ, chính sách của Nhà nước trong quản lý xuất khẩu

Hiện nay, trên thế giới các nước sử dụng nhiều công cụ để thực hiện chính sách

thương mại quốc tế, trong đó công cụ quan trọng nhất là thuế đánh vào hàng nhập

khẩu. Gần như tất cả các nước trong khối Asean đều áp dụng thuế nhập khẩu đối với

hàng nông sản, chỉ riêng có Singapore là không. Đây là nhân tố phức tạp và thường

gây khó khăn cho các nhà kinh doanh do hệ thống pháp luật, bảo hộ mỗi nước khác

nhau như Singapore thì 99% hàng nhập khẩu nào là miễn thuế, Thái Lan thì vẫn áp

dụng mức thuế nhập khẩu khá cao và gạo vẫn được bảo hộ về nhập khẩu.

SV: Đào Trọng Nghĩa

9

Lớp: CN&XD49B

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Vũ Minh Trai

Ngoài ra, còn có công cụ hạn ngạch (Quota, cơ chế giấy phép nhập khẩu và

các công cụ phi thuế quan khác). Quota chính là công cụ chủ yếu của hàng rào phi

thuế quan, là những quy định hạn chế số lượng đối với từng thị trường, mặt hàng.

Nó là công cụ kinh tế phục vụ cho công tác điều tiết quản lý Nhà nước về xuất nhập

khẩu vừa bảo hộ sản xuất trong nước. Là quy định của Nhà nước về số lượng (hay

giá trị) của một mặt hàng được phép xuất khẩu trong một thời gian nhất định.

– Trợ cấp xuất khẩu: Là biện pháp,chính sách của Nhà nước hỗ trợ các doanh

nghiệp sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu nhằm khuyến khích tăng nhanh số

lượng và giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ bằng các biện pháp trợ

cấp trực tiếp hay cho vay với lãi suất thấp đối với nhà xuất khẩu trong nước.

– Chính sách tỷ giá hối đoái: Kết quả của hoạt động kinh doanh xuất khẩu rất

nhạy cảm với tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái tăng thường có lợi cho xuất khẩu. Vì

vậy, trong kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm bắt chính xác sự biến

động của tỷ giá hối đoái trên thị trường, quan tâm chính sách hối đoái của Chính

phủ, nguồn huy động ngoại tệ của quốc gia…

2.2. Tác động của nền kinh tế trong nước và kinh tế các nước Asean

Nền kinh tế trong nước ảnh hưởng đến lượng cung của hàng xuất khẩu. Nếu

nền sản xuất chế biến trong nước phát triển thì khả năng cung ứng hàng xuất khẩu

cũng như chất lượng hàng xuất khẩu sẽ tăng lên, doanh nghiệp sẽ thuận lợi trong

công tác thu mua tại nguồn, cạnh tranh được với các sản phẩm trong khu vực và

ngược lại thì sẽ rất khó khăn và thất bại.

Các nước Asean đều có điểm tương đồng với Việt Nam, có xuất phát điểm là

nền văn minh lúa nước,nền nông nghiệp là chủ yếu, mặt khác hầu như các nước đều

có trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ chế biến hơn ta. Do đó, nhu cầu

về hàng nông sản cũng bị hạn chế, chủ yếu là để tái xuất sang nước khác. Nếu trình

độ phát triển là như nhau thì khả năng cạnh tranh sẽ thuận lợi hơn cho các doanh

nghiệp nước ta. Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải cạnh tranh khốc liệt với các đối

thủ trong nước và ngoài khu vực Asean.

SV: Đào Trọng Nghĩa

10

Lớp: CN&XD49B

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Vũ Minh Trai

Hơn nữa, nếu nền kinh tế ổn định về chính trị – văn hoá xã hội sẽ là nhân tố

thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, nó tạo lập những khuôn khổ chung cho hoạt

động kinh doanh diễn ra. Khi môi trường chính trị xã hội của nước ta và Asean có

bất kỳ sự thay đổi nào cũng đều có ảnh hưởng đến kinh doanh xuất khẩu. Môi

trường chính trị – xã hội phải ổn định nếu không nó đồng nghĩa với những rủi ro mà

doanh nghiệp gặp phải.

Mặt khác, sự phát triển của hệ thống tài chính ngân hàng,của cơ sở hạ tầng của

đất nước bạn cũng ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động xuất khẩu. Trong xuất khẩu thì

tính phức tạp trong thanh toán nguồn vốn và ngoại tệ cần huy động lớn, vì vậy khi

hệ thống tài chính ngân hàng của nước xuất khẩu, nhập khẩu phát triển thì nó sẽ tạo

điều kiện cho các đơn vị kinh doanh xuất khẩu được dễ dàng huy động vốn ngoại tệ,

thực hiện các nghiệp vụ thanh toán nhanh chóng và chính xác với độ rủi ro thấp góp

phần nâng cao uy tín của doanh nghiệp. Hiện nay trong các nước Asean thì chỉ có

Inđônêxia, Singapore, Thái Lan là có hệ thống ngân hàng phát triển mạnh.

Hệ thống cơ sở hạ tầng trong đó đặc biệt là hệ thống thông tin liên lạc có tác

động rất lớn đến khả năng xuất khẩu. Ngày nay việc trao đổi mua bán giữa nước ta

và Asean chủ yếu là bằng đường thông tin điện thoại, Internet. Thông qua khả năng

thu thập thông tin, cung cấp thông tin một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ giúp

doanh nghiệp không bỏ sót các cơ hội kinh doanh lớn, hấp dẫn, giúp việc giao dịch

đàm phán, diễn ra nhanh chóng thuận lợi với chi phí thấp. Việt Nam hiện nay có hệ

thống thông tin liên lạc tương đối phát triển, điều này tạo điều kiện rất lớn cho các

doanh nghiệp khi tham gia hoạt đông xuất khẩu. Các nước Singapore, Malaysia,

Thái Lan, Philipin là những nước có hệ thống thông tin phát triển điều đó tạo thuận

lợi cho việc trao đổi thông tin giữa nước ta và các nước ASEAN rất thuận lợi. Bên

cạnh đó là hệ thống giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường biển, đường không,

nhà ga, bến cảng, khu dự trữ được bố trí thuận lợi với máy móc hiện đại cũng tạo

điều kiện thuận lợi cho kinh doanh xuất khẩu.

SV: Đào Trọng Nghĩa

11

Lớp: CN&XD49B

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Vũ Minh Trai

2.3. Quan hệ kinh tế thương mại giữa nước ta và các nước Asean

Ngày nay các xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hóa, hội nhập kinh tế ngày càng

phát triển, các nước trong khu vực đều có sự liên kết kinh tế, mở ra những cơ hội

kinh doanh mới và hấp dẫn nhưng cũng làm gia tăng sự cạnh tranh mua bán giữa

doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài.

Các quan hệ kinh tế thương mại ngày càng có tác động mạnh mẽ tới hoạt động

xuất khẩu của từng quốc gia nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng. Quan hệ

kinh tế – thương mại giữa nước ta và các nước Asean đã có từ rất lâu. Và hiện nay

Việt Nam đã là thành viên của Asean vào 28/7/1995 và tham gia vào khu mậu dịch

tự do AFTA năm 2003. Trong khuôn khổ khu vực mậu dịch tự do các nước sẽ có

đặc quyền buôn bán với nhau. Về lý thuyết, khi tham gia AFTA, các thành viên sẽ

có nhiều cơ hội xuất khẩu hàng sang các nước Asean khác nhờ hàng rào bảo hộ của

các nước đó được cắt giảm. Hiện nay, Việt Nam đã thực hiện xong chương trình

CEPT nghĩa là chúng ta đã hầu như hoàn tất việc cắt giảm thuế với mức 0 – 5%.

Trong các năm qua trung bình các nước Asean tiêu thụ 23,7% giá trị hàng xuất

khẩu của Việt Nam trong đó Singapore là nước nhập khẩu lớn nhất các hàng hoá

xuất khẩu của Việt Nam trong các nước Asean. Đứng sau Singapore là Thái Lan,

Malaysia rồi Inđônêxia tiếp đó là Philipin, Lào. Vì vậy nếu so sánh về giá trị kim

ngạch xuất khẩu của Việt Nam thì có thể khẳng định tầm quan trọng của các nước

Asean đối với quan hệ ngoại thương của Việt Nam.

2.4. Các yếu tố về dân số, văn hoá.

Đây là yếu tố vô cùng phức tạp nhưng lại có tầm ảnh hưởng cao và mang

tính chất quyết định. Nó quyết định dung lượng của thị trường và nhu cầu của

thị trường. Khi nghiên cứu các yếu tố dân số, văn hóa, xã hội các doanh nghiệp

cần phải nắm được quy mô, cơ cấu dân số, thị yếu tiêu dùng, thu nhập, phong tục

tập quán, tín ngưỡng của từng nước để từ đó đưa ra các chiến lược Marketing

mix phù hợp.

SV: Đào Trọng Nghĩa

12

Lớp: CN&XD49B

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Vũ Minh Trai

2.5. Các yếu tố địa lý, sinh thái.

Các yếu tố địa lý, sinh thái phải được nghiên cứu, xem xét để có quyết định

đúng đắn về cách thức, phương hướng, nội dung kinh doanh. Bởi vì, trong kinh

doanh xuất khẩu chi phí vận tải chiếm tỷ trọng rất lớn trong hoạt động này. Ngay

trong khu vực Asean việc đi lại, chuyên chở hàng hoá giữa các nước là rất thuận

lợi, vận chuyển hàng hoá trên nhiều phương thức như: đường bộ, đường biển,

đường sắt, đường không, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu

hàng hoá giữa các nước Asean diễn ra nhanh chóng, đúng thời gian quy định tạo

được uy tín cho nhau.

Khí hậu thời tiết cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hoá. Khí hậu

ảnh hưởng đến chu kỳ sản xuất, khả năng cung ứng, chi phí bảo quản, chế

biến hàng hoá ở nước xuất khẩu. Vì vậy, vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp

kinh doanh xuất khẩu phải có kế hoạch thu mua, dự trữ, bảo quản, chế biến

để bán hàng phù hợp với nhu cầu thị trường.

SV: Đào Trọng Nghĩa

13

Lớp: CN&XD49B

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD: PGS.TS Vũ Minh Trai

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING XUẤT KHẨU

NÔNG SẢN SANG THỊ TRƯỜNG ASEAN CỦA CÔNG TY

INTIMEX VIỆT NAM

1. TỔNG QUAN VỀ INTIMEX VIỆT NAM

1.1 Thông tin chung

SV: Đào Trọng Nghĩa

14

Lớp: CN&XD49B

Xem thêm: Bản Tin Thị Trường Chứng Khoán Mới Nhất Hôm Nay

Xem thêm: Bản Tin Thị Trường Chứng Khoán Mới Nhất Hôm Nay