15 đề tài thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn của việt nam – Tài liệu text mới nhất

đề tài thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn của việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (210.56 KB, 17 trang )

Bạn đang đọc: đề tài thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn của việt nam – Tài liệu text

Marketing Căn Bản
Đề tài:
Thị trường và giá cả xuất
khẩu thịt lợn của Việt Nam
Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn.
Marketing Căn Bản
MỤC LỤC
Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn.
Marketing Căn Bản
Đề Tài: TÌM HIỂU THỊ TRƯỜNG VÀ GIÁ CẢ THỊT LỢN XUẤT KHẨU CỦA
VIỆT NAM.
 Thực hiện:Nhóm 1 gồm 9 thành viên:
Họ và tên
1. Nguyễn Đức Linh (Nhóm trưởng) 541246
2. Lê Diệu Huyền 552135
3. Chu Đức Mạnh 552039
4. Ngô Thị Trang 552965
5. Hoàng Thị Vui 552321
6. Hoàng Thị Yến 552439
7. Vũ Thị Xuân Hiền 552471
8. Trần Văn Thăng 531729
9. Đỗ Tuấn Đạt 554278
Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn.
Marketing Căn Bản
I.MỞ ĐẦU:
Trải qua quá trình phát triển lâu dài, thị trường thịt lợn trong nước đã có nhiều biến
động.Ngày nay khi Việt Nam ra nhập WTO đã mở ra cho một thị trường rộng lớn
hơn, để xuất khẩu các mặt hàng khác trong đó có thịt lợn nhưng cũng phải cạnh
tranh quyết liệt với thịt lợn của các nước xuất khẩu sang nước ta. Hiện nay, mặc dù
có nhiều điều kiện thuận lợi phát triển chăn nuôi lợn theo hướng sản xuất hàng
hóa, nhưng chăn nuôi lợn trong vùng hiện tập trung chủ yếu ở các nông hộ quy mô

nhỏ, chất lượng sản phẩm còn nhiều hạn chế. Ngoài ra thị trường thịt lợn thế giới
gần đây đang có nhiều biến động đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình
phát triển chăn nuôi lợn của vùng.Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra nhiều
cơ hội cho sản phẩm của vùng, Cùng với việc tận dụng những ưu thế sẵn có, cần
phân tích tìm ra những ưu nhược điểm của ngành chăn nuôi lợn nhằm nâng cao
năng lực sẩn xuất và khả năng cạnh tranh của sản phẩm thịt lợn trong vùng.
Thịt lợn là một mặt hàng chính trong việc xuất khẩu của ngành nông nghiệp Việt
Nam. So với toàn ngành chăn nuôi, doanh thu và lợi nhuận từ việc xuất khẩu thịt
lợn ra nước ngoài là khá cao chiếm trên 76% tổng sản lượng thịt các loại trong
nước, vì hiện nay chủ yếu Việt Nam mới chỉ xuất khẩu được các sản phẩm từ thịt
lợn và thịt gà.Nắm bắt được vai trò to lớn của việc chăn nuôi lợn để xuất khẩu thịt
lợn sang thị trường nước ngoài là một việc quan trọng, nên Nhà nước ta đã đầu tư
đúng mức vào việc chăn nuôi lợn. Nhằm tăng khả năng chế biến ra các sản phẩm
chăn nuôi như “Giống Lợn lại kinh tế” cho ra sản phẩm thịt lợn tốt đạt tiêu chuẩn
quôc tế, thì ta mới có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế để xuất khẩu thịt lợn.
Mới đây, thịt lợn là một trong những mặt hàng tăng giá mạnh nhất “thịt lợn tăng
cao hơn cả vàng” gần gấp đôi trong hơn 1 năm qua. Thịt lợn ban đầu tăng nhẹ
nhưng do đi kèm với những thông tin khan hiếm nguồn cung do dịch bệnh, xuất
khẩu ồ ạt sang Trung Quốc khiến đà tăng giá ngày càng khủng khiếp. Bên cạnh đó,
Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn.
Marketing Căn Bản
giá thịt lợn tiêu thụ trong nước luôn cao hơn thịt xuất khẩu cũng là một khó khăn
cho các doanh nghiệp.Chúng ta vẫn nhập khẩu thịt lợn với sản lượng tăng nhanh,
đặc biệt là sau khi xảy ra dịch lợn tai xanh, sản lượng thịt lợn nhập khẩu tăng đáng
kể. Nguồn nhập khẩu thịt lợn chủ yếu là châu Âu (EU) với khoảng 85,9%, tiếp
theo là Hồng Kông 12,7%, Mỹ 1% Tình trạng này khiến người sản xuất chỉ quan
tâm đến tiêu thụ nội địa mà coi nhẹ xuất khẩu.Hàng rào bảo hộ(thuế quan) của một
số nước nhập khẩu thịt lợn trên thế giới cùng với những diễn biến thị trường như
hiện nay thì thịt lợn xuất khẩu của Việt Nam đang có nguy cơ bị thu hẹp.
Phát triển xuất khẩu mặt hàng thịt lợn không những có ý nghĩa về mặt kinh tế mà

còn có ý nghĩa rất to lớn về các mặt chính trị và xã hội. Đó là, tăng thu nguồn
ngoại tệ, nâng cao đời sống xã hội, tạo công ăn việc làm, đặc biệtgiải quyết được
một số lượng lớn lao động ở nông thôn. Tuy nhiên trước sức ép tăng giá và thị
trường xuất khẩu đang dần bị thu hẹp như hiện nay thì đó là 1 những thách thức và
khó khăn lớn. Bởi vậy chúng ta cùng đi tìm hiểu: “Thị trường và giá cả thịt lợnxuất
khẩucủa Việt Nam”
II.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
– Cơ sở lí luận thực tiễn thị trường xuất khẩu và giá thịt lợn ở Việt Nam.
Nhằm góp phần Thực hiện chủ trương đưa chăn nuôi trở thành ngành sản
xuất hàng hóa chính, “Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020” .
– Đánh giá tình hình phát triển sản xuất và xuất khẩu cũng với sự biến động về
giá cả thị trường thịt lợn.
– Phân tích tìm ra những ưu nhược điểm của ngành chăn nuôi lợn nhằm nâng
cao năng lực sẩn xuất và khả năng cạnh tranh của sản phẩm thịt lợn trong
vùng.
Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn.
Marketing Căn Bản
III.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
– Thu thập tài liệu từ nguồn thông tin thứ cấp( luận văn, tài liệu nghiên cứu
khoa học, internet …)
– Xu hướng và Sự tăng nhanh về giá cả thịt lợn trong nước.
– Các chỉ số giá tiêu dùng, được Tổng cục Thống kê công bố.
– Phân tích lợi thế so sánh và cơ hội của sản phẩm thịt lợn của Việt Nam trong
xu thế hội nhập.
– Phương pháp tổng hợp thống kê và xử lý số liệu.
– Phương pháp so sánh theo các năm.
IV.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
A.Tìm Hiểu Vai Trò, Thị Trường Và Giá Cả Xuất Khẩu Thịt Lợn.
1.Vai Trò Của Chăn Nuôi Xuất Khẩu Thịt Lợn Ở Việt Nam.
Đối với nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu thì việc phát triển ngành chăn nuôi

thành ngành mũi nhọn, trong những năm gần đây, tỉ trọng giá trị chăn nuôi trong
cơ cấu tổng giá trị sản xuất nông nghiệp được nâng lên đáng kể, đến nay đã đạt
mức 20,5 – 21,2%.Vì là ngành mũi nhọn của Việt Nam nên hầu hết các hộ gia đình
ở nông thôn Việt Nam đều chăn nuôi gà lợn, bò, dê
Nắm bắt được vai trò to lớn của việc chăn nuôi lợn để xuất khẩu thịt lợn sang thị
trường nước ngoài là một việc quan trọng nên Nhà nước ta đã đầu tư đúng mức
vào việc chăn nuôi lợn. Một số trang trại và hợp tác xã nuôi lợn với quy mô lớn đã
được mở ra liên kết với các trung tâm khoa học để áp dụng các thành tựu khoa học,
kỹ thuật trong khâu lai tạo giống, chọn giống, phòng trừ bệnh tật, tăng khả năng
chế biến ra các sản phẩm chăn nuôi từ lợn đạt chất lượng cao phục vụ không
Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn.
Marketing Căn Bản
những cho người tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu nhiều ra thị trường thế
giới.
Chính vì nhận thức đó mà giống lợn thuần chủng của Việt Nam là giống lợn ỉn, có
tỷ lệ nạc cao, thịt thơm nhưng trọng lượng thấp (khoảng 40kg/con), khả năng
phòng bệnh không cao đã được lai tạo với giống lợn siêu nạc có trọng lượng cao,
khả năng phòng bệnh cao của giống lợn Bắc Kinh, giống lợn Bạch Nga để cho ra
một giống lợn mà ta thường gọi là “giống lợn lai kinh tế”. Giống lợn này có trọng
lượng từ 85 – 120 kg, cho ra sản phẩm thịt lợn tốt đạt tiêu chuẩn quốc tế, ta mới có
thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế để xuất khẩu được thịt lợn.Đây là một mặt
hàng chính trong việc xuất khẩu của ngành nông nghiệp Việt Nam. Một năm Việt
Nam xuất khẩu các sản phẩm từ thịt lợn (lợn đông lạnh: 10 000 tấn/năm; lợn tươi:
3000 tấn/năm; các sản phẩm được chế biến 30 000 tấn/năm) sang thị trường Nga,
SNG, Hồng Kông, Nhật Bản Lợi nhuận thu được từ việc xuất khẩu thịt lợn ra
nước ngoài đạt 1,2 triệu USD/ năm. Doanh thu từ viêc xuất khẩu thịt lợn ra các
thị trường quốc tế đạt 15 triệu USD/năm (năm 2007).Hiện nay, với số lượng trên
27,3 triệu con lợn năm 2010, Việt Nam đứng thứ 4 trong danh sách 10 nước có số
lượng lợn nhiều nhất trên thế giới và đứng thứ 6 trên thế giới về sản lượng thịt lợn.
Tốc độ tăng đàn lợn đạt trên 3,4%, tổng sản lượng thịt đạt 2,88 triệu tấn tăng 4,1%

so với năm 2008.
Bảng 1. SỐ LƯỢNG LỢN QUA MỘT SỐ NĂM GẦN ĐÂY
Năm Số lợn
(nghìn con)
Tăng/giảm so
với năm
trước(%)
SL Thịt
(nghìn tấn)
Tăng/giảm so
với năm trước
(%)
Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn.
Marketing Căn Bản
2006 26855,30 -2,10 2505,10 9,47
2007 26560,70 -1,10 2662,70 6,29
2008 26701,60 0,50 2771,00 4,07
2009 27627,73 3,47 2931,42 5,80
2010 27373,15 -0,99 3027,26 10,33
Nguồn: Số liệu Cục Chăn Nuôi
2.Thị Trường Xuất Khẩu Thịt Lợn:
Theo số liệu thống kê tại thời điểm 01/4/2010, cả nước có 27,3 triệu con, tăng
3,06% so với cùng kỳ năm 2009. Các vùng có số đầu lợn nhiều là vùng ĐBSH có
7,2 triệu con, chiếm 27,1% tổng đàn lợn trong cả nước; Đông Bắc 4,6 triệu con,
chiếm 17,3%; ĐBSCL 3,6 triệu con, chiếm 13,6%; Bắc Trung Bộ 3,4 triệu con,
chiếm 12,9%; ĐNB 2,5 triệu con, chiếm 9,3%; DHNTB 2,4 triệu con, chiếm
9,0%.Các tỉnh có số đầu lợn lớn trên 1 triệu con tại thời điểm 01/4/2010 là Hà Nội,
Đồng Nai, Nghệ An, Thái Bình, Bắc Giang.Theo ước tính của Cục Chăn nuôi, mỗi
tháng cả nước sản xuất và tiêu thụ khoảng 290-300 ngàn tấn thịt lợn hơi. Dự báo,
tổng sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng sản xuất trong 06 tháng đầu năm 2011

Xem thêm: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là gì? Khái niệm và đặc điểm

khoảng 1,77 triệu tấn, tăng khoảng 3,5% so với cùng kỳ năm 2010. Trong đó, các
vùng sản xuất thịt lợn có tỷ trọng lớn nhất lần lượt là: ĐB Sông Hồng khoảng 29%;
ĐB sông Cửu Long khoảng 18%; Đông Nam Bộ khoảng 12%.
Bên cạnh số đầu lợn tăng thì sản lượng thịt sản xuất ra hàng năm cũng tăng lên rất
đáng kể. Năm 2001 sản lượng thịt lợn sản xuất ra chỉ đạt 1.515.299 tấn, đến 2005
đạt 2.205.100 tấn và năm 2009 đạt 2.500.000 tấn. Mặc dù năm 2009 số đầu con đã
giảm hơn năm 2005 song do cơ cấu đàn lợn đã thay đổi, tỷ lệ đàn lợn lai, lợn ngoại
Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn.
Marketing Căn Bản
thuần ngày càng tăng cho nên khối lượng xuất chuồng tăng dẫn đến tổng sản lượng
thịt tăng lên. Sản lượng thịt tăng đã góp phần làm tăng lượng thịt tiêu thụ bình
quân đầu người liên tục mỗi năm.Cục Chăn nuôi đang dự kiến tới cuối năm, nguồn
cung thịt lợn trong nước tăng khoảng 5 – 6%. Trong hai tháng gần đây, nguồn lợn
giống cung ứng cho thị trường đã tăng khoảng 15 – 17%. Theo ước tính, năm 2011,
tổng sản lượng thịt lợn hơi cả nước có thể đạt tới 3,3 triệu tấn. Với số lượng này,
có thể đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước, chưa cần đến nhập khẩu thịt lợn.
Dự báo, cầu thịt các loại cuối năm khoảng 1,7 – 1,8 triệu tấn thịt xẻ.
3 Xu Hướng Và Sự Tăng Nhanh Về Giá Thịt Lợn Trong Nước:
Theo số liệu tiêu dùng tháng 7 năm 2010 của Cục Thống kê Hà Nội, giá các loại
thịt lợn chỉ 45.000-70.000 đồng mỗi kg. Đến tháng 12 năm 2010, giá thịt lợn tại Hà
Nội đã lên ngưỡng 70.000-90.000 đồng, tăng từ 25-50% mỗi kg thịt. Không dừng
lại, tính đến tháng 6 năm 2011, mức giá này bị đẩy lên đến 110.000-130.000. Như
vậy, trong vòng một năm, giá thịt lợn tại các chợ ở Hà Nội đã tăng khoảng 100%.
Hiện nay giá thịt lợn trong nước giao động từ 90.000 – 110.000 đồng/kg. Gía thịt
lợn đã tăng tới 70% trong những tháng vừa qua, nhất là từ tháng 4-2011 trở lại đây,
mức tăng giá thịt lợn gần như ngoài tầm kiểm soát. Theo dữ liệu của Cục Quản lý
giá, mức giảm đối với thịt lợn hơi tại miền Bắc chỉ khoảng 1.000 đồng/kg, tương
ứng khoảng 1,5%; tại miền Nam khoảng 3.000-4.000 đồng/kg, ứng với khoảng 4-
5%. Xu hướng giảm giá các loại thực phẩm, đặc biệt là thịt bò, gà… có nguyên
nhân do nhu cầu không cao. Mặt khác, chăn nuôi đang có chiều hướng thuận lợi do

dịch bệnh cơ bản được khống chế, người chăn nuôi có lãi do giá tiêu thụ tăng trên
thị trường nên nguồn cung tăng.biến động về con giống ít hơn giá thịt, giá giống
chỉ tăng 30%, trong khi giá heo hơi lại tăng gần 70%. Tuy nhiên, do giá đầu ra cao,
ở một số địa phương xảy ra tình trạng tái đàn ồ ạt khiến cho giá giống tăng lên cao
Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn.
Marketing Căn Bản
cục bộ, có nơi gần 100%, thậm chí gà con đã lên tới 23.000 đồng/con. Hiện tại đa
số các chợ ở Hà Nội, giá thịt lợn mông bán ra từ 100.000 – 105.000 đồng/kg,thịt
lợn ba chỉ là 95.000 đồng/kg. Nguồn cung đã đủ. Tại Bắc Giang, Hải Dương, lợn
hơi do tư thương mua tại chuồng đã giảm nhiều so với cách đây nửa tháng. Cụ thể,
lợn hơi trọng lượng từ 70-80kg/con có giá từ 51-52.000 đồng/kg.
Để lý giải hiện tượng giá heo luôn tăng ở mức cao này, một số thương lái cho biết
có đến 30% lượng heo xuất chuồng hiện nay tại khu vực Đông Nam Bộ này được
các thương lái gom hàng mang ra Bắc và xuất khẩu sang Trung Quốc. Có thể nói
đây là hiện tượng “đục nước béo cò” của nhiều người làm ăn kinh doanh khi giá cả
trong nước luôn rơi vào tình trạng lạm phát phi mã nhưng vẫn vì tư lợi cá nhân mà
xuất khẩu sang nước ngoài. Đứng trước vấn đề này, thiết nghĩ các cơ quan quản lý
và cơ quan chức năng nên kiểm soát chặt khu vực cửa khẩu này.
4.Phân tích lợi thế so sánh và cơ hội của sản phẩm thịt lợn của VIỆT NAM
trong xu thế hội nhập.
+) Các kịch bản hội nhập thế giới: Nhận thức được những khó khăn trong chế biến
thịt lợn xuất khẩu và nguy cơ thị trường bị thu hẹp do gặp phải sự cạnh tranh rất
mạnh mẽ về giá xuất khẩu của các nước khác nư Trung Quốc, Braxin,…
Trên cơ sở phân tích lợi thế so sánh của các ngành hàng lợn xuất khẩu, trong bối
cảnh chung của quá trình hội nhập chúng tôi đưa ra một số kịch bản giả định như
sau:
– Tỷ giá hối đoái chính thức dùng trong đề tài là OER=15,75/1USD
– Tỷ giá hối đoái bóng (mờ) dùng trong đề tài là SER=1,2*OER
– Các chi phí Marketing và chi phí khác giữ nguyên.
Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn.

Marketing Căn Bản
 Kịch Bản 1: Giả sử thuế nhập khẩu các nguyên liệu dành cho chế biến thức
ăn được miễn giảm hoàn toàn (thuế nhập khẩu = 0) và giá thành sản xuất
giảm kéo theo chi phí trung bình của chăn nuôi giảm (yếu tố khác không
đổi), điều gì sẽ xảy ra đối với ngành chăn nuôi lợn thịt xuất khẩu của vùng
nghiên cứu?
 Thuế nhập khẩu nguyên liệu = 0 và giá nguyên liệu tiêu dùng giảm 5% so
với mức giá thực tế ban đầu.
 Thuế nhập khẩu nguyên liệu = 0 và giá nguyên liệu tiêu dùng giảm 10% so
với mức giá thực tế ban đầu.
 Thuế nhập khẩu nguyên liệu = 0 và giá nguyên liệu tiêu dùng giảm 15% so
với mức giá thực tế ban đầu.
Bảng 2: Lợi thế so sánh của ngành hàng lợn xuất khẩu theo kịch bản 1
Tính cho 1 tấn lợn hơi Lợn choai Lợn sữa
1. Giá trị sản phẩm (US$/tấn hơi)
1.240,00 1.508,99
2. Tổng chi phí
a. Trong nước (1000đ/tấn)
11.278,14 15.103,38
b. Nước ngoài (US$/tấn)
238,77 101,33
Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn.
Marketing Căn Bản
-Thuế =0 và giá nguyên liệu chế biến TĂ giảm 5%
227,46 96,21
-Thuế =0 và giá nguyên liệu chế biến TĂ giảm 10%
217,12 89,28
-Thuế =0 và giá nguyên liệu chế biến TĂ giảm
15%
206,78 79,92

3. DRC
11,44 10,76
-Thuế =0 và giá nguyên liệu chế biến TĂ giảm 5%
11,14 10,76
-Thuế =0 và giá nguyên liệu chế biến TĂ giảm 10%
11,03 10,64
-Thuế =0 và giá nguyên liệu chế biến TĂ giảm 15%
10,92 10,58
4. DRC/SER
0,61 0,57
-Thuế =0 và giá nguyên liệu chế biến TĂ giảm 5%
0,589 0,566
-Thuế =0 và giá nguyên liệu chế biến TĂ giảm 10%
0,583 0,563
-Thuế =0 và giá nguyên liệu chế biến TĂ giảm 15%
0,578 0,559
Nguồn: tính toán từ số liệu điều tra.
Theo kết quả bảng trên nếu giảm giá nguyên liệu thức ăn, chi phí khấu thành 1 tấn
lợn hơi xuất chuồng giảm đáng kể. Để giải quyết vấn đề này, nhà nước cần khuyến
khích các nhà sản xuất nguyên liệu trong nước tăng cường đầu tư mở rộng diện
tích sản xuất, tăng năng xuất và chất lượng các nguyên liệu chính.Ngoài ra cần ưu
tiên khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư công nghệ sản xuất các
nguyên liệu yêu cầu kỹ thuật cao, hạn chế đầu tư hoàn chỉnh từ doanh nghiệp nước
ngoài. Tóm lại muốn nghành hàng lợn xuất khẩu phát triển, không còn con đường
nào khác là phải tìm mọi cách hạ giá sản phẩm chăn nuôi để có được ưu thế của
mình trên thị trường quốc tế.
Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn.
Marketing Căn Bản
 Kịch bản 2: Giả xử người chăn nuôi ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào
sản xuất làm cho năng xuất chăn nuôi tăng lên (yếu tố khác không đổi),

điềugì sẽ xảy ra đối với ngành chăn nuôi lợn thịt xuất khẩu của vùng nghiên
cứu?
 Giá thành giảm 5% so với giá thành sản xuất ban đầu nhờ tăng năng suất.
 Giá thành giảm 10% so với giá thành sản xuất ban đầu nhờ tăng năng suất.
 Giá thành giảm 15% so với giá thành sản xuất ban đầu nhờ tăng năng suất.
Bảng 3: Lợi thế so sánh của ngành hàng lợn xuất khẩu theo kịch bản 2
Tính cho 1 tấn lợn hơi Lợn choai Lợn sữa
1. Giá trị sản phẩm (US$/tấn hơi)
1.240,00 1.508,99
2. Tổng chi phí
a.Trong nước (1000đ/tấn)
11.278,14 15.103,38
– Giảm giá thành sản xuất 5%
10.714,23 14.351,69
– Giảm giá thành sản xuất 10%
10.150,32 13.596,33
– Giảm giá thành sản xuất 15%
9.586,42 12.840,98
b.Nước ngoài (US$/tấn)
254,4 105,6
3. DRC
11,44 10,76
– Giảm giá thành sản xuất 5%
11,14 10,76
– Giảm giá thành sản xuất 10%
10,87 10,23
– Giảm giá thành sản xuất 15%
10,30 9,69
Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn.
Marketing Căn Bản

4. DRC/SER
0,61 0,57
– Giảm giá thành sản xuất 5%
0,58 0,54
– Giảm giá thành sản xuất 10%
0,54 0,51
– Giảm giá thành sản xuất 15%
0,51 0,48
Nguồn: tính toán từ số liệu điều tra.
Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất là hướng đi rất khả quan,
nhằm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản xuất và điều đó dẫn
đến tăng sức cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu.
Từ kết quả tính toán cho thấy khi giá thành sản xuất lợn xuất khẩu giảm sẽ làm
tăng lợi thế so sánh lên khá nhiều thông qua các chỉ tiêu DRC và DRC/SER. Như
vậy qua chỉ tiêu DRC cho thấy chúng ta sẽ mất ít đồng nội tệ hơn để thu được một
đồng ngoại tệ thông qua các hoạt động xuất khẩu cho cả 2 loại sản phẩm lợn choai
và lợn sữa.
B.Thực Trạng Xuất Khẩu Thịt Lợn Ở Việt Nam.
1.Thị trường xuất khẩu thịt lợn của VN đang bị thu hẹp
Giá thịtcủa Việt Nam khó canh tranh với trung quốc.4 tháng đầu năm, cả nước mới
xuất được trên 2.000 tấn thịt lợn, giảm 32% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó,
Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam, một trong những doanh nghiệp xuất khẩu lớn
nhất cả nước, cũng chỉ đạt khoảng 300 tấn, so với kế hoạch cả năm là 14.000
tấn.Trung Quốc, đối thủ chính của Việt Nam, ngay từ đầu năm đã chào bán thịt lợn
xuất khẩu với giá khá thấp: 1.200 USD/tấn lợn choai (trước là 1.300-1.400
USD/tấn) và 1.400 USD/tấn lợn sữa (trước là 1.500-1.600 USD/tấn). Riêng với thị
Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn.
Marketing Căn Bản
trường Nga, giá chỉ còn 1.150 USD/tấn.Theo các chuyên gia, nếu các doanh nghiệp
Việt Nam xuất với giá trên thì sẽ bị lỗ khoảng 3 triệu đồng/tấn.Tại thị trường Nga,

Xem thêm: Lệnh ATC, phiên ATC, giá ATC trong chứng khoán là gì? – https://mix166.vn

thịt lợn đến từ Brazil cũng cạnh tranh gay gắt với hàng xuất khẩu của Việt
Nam.Nếu như lượng xuất của Brazil vào Nga năm 2001 chỉ đạt vài nghìn tấn, thì
năm ngoái đã vươn tới con số 170.000 tấn.Bên cạnh đó, giá thịt lợn tiêu thụ trong
nước luôn cao hơn thịt xuất khẩu cũng là một khó khăn cho các doanh nghiệp.
Hiện giá 1 tấn thịt lợn mảnh tại thị trường trong nước đã là 17 triệu đồng. Tình
trạng này khiến người sản xuất chỉ quan tâm đến tiêu thụ nội địa mà coi nhẹ xuất
khẩu.Các chuyên gia nhận định, với những diễn biến thị trường như hiện nay thì
thịt lợn xuất khẩu của Việt Nam khó có thể tránh khỏi nguy cơ mất dần thị trường.
2.Xuất khẩu thịt lợn chỉ có tính thời vụ:
Trong khi giá thịt lợn ở trong nước tăng cao do thiếu nguồn cung thì lợn sữa lại
đang được xuất khẩu sang Trung Quốc với số lượng khá lớn. Theo lý giải của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát thì việc làm này chỉ
mang tính thời vụ.Cách đây 10 năm, lợn sữa là một trong những mặt hàng xuất
khẩu thế mạnh của Việt Nam, thị trường tiêu thụ chủ yếu là Trung Quốc.Nhiều
năm trở lại đây, xuất khẩu lợn sữa của nước ta bị mất thị trường, trong khi nhiều
loại thịt của nước ngoài đã tràn vào nước ta, khiến Việt Nam từ nước xuất khẩu thịt
trở thành nước nhập khẩu ròng các loại thịt. Việc xuất khẩu thịt lợn diễn ra vào
thời điểm này chỉ có tính chất thời vụ, do diễn biến về cung cầu ở thị trường Trung
Quốc và Việt Nam.
Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn.
Marketing Căn Bản
C.Giải Pháp:
1.Giải pháp thị trường:
Nhà nước cần hỗ trợ các doanh nghiệp chăn nuôi, xuất khẩu thịt lợn vào các thị
trường tiềm năng mà thịt lợn Việt nam có thể xâm nhập trong thời gian tới đó là thị
trường Hồng Kông, Liên Bang Nga, Nhật Bản, Singapore, Malaysia và Trung
Quốc. Ngoài ra Nhà nước cần hỗ trợ các doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất
khẩu thịt lợn sang các nước khác, thông qua các nước khác bằng xúc tiến thương
mại, thông tin quảng cáo, tổ chức khảo sát giới thiệu sản phẩm thông qua các cơ
quan đại diện ở nước ngoài như Tham tán thương mại, ngoại giao. Tổ chức nghiên

cứu thị trường tư vấn giúp các doanh nghiệp xuất khẩu thịt lợn có điều kiện tiếp
cận với các thị trường mới trên cơ sở lợi thế.
Kết hợp các giải pháp khác:
1. Giải pháp đầu tư vốn
2. Giải pháp về chính sách thuế
3. Quy hoạch chăn nuôi
4. Tổ chức sản xuất
5. Khoa học công nghệ
6. Thông tin thị trường và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi.
V.KẾT LUẬN
Trên cơ sở thực trạng xuất khẩu thịt lợn của Việt Nam trong thời gian qua và quá
trình nghiên cứu thị trường của các nước nhập khẩu thịt lợn trên thế giới trong thời
kỳ đến 2011, định hướng phát triển thị trường xuất khẩu thịt lợn của nước ta sẽ
tăng vào những thị trường tiềm năng mà mặt hàng thịt lợn của Việt Nam có khả
Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn.
Marketing Căn Bản
năng xâm nhập trong thời gian tới, gồm:Thị trường Nga, Hồng Kông, Singapore và
Malaysia, Nhật, Nam Trung Quốc, Thị trường các nước Đông Nam Á. Ngoài các
thị trường trên cần tiếp tục đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, thông tin thị
trường và đàm phán để ký kết hoặc thoả thuận các Hiệp định thú y với các nước
nhập khẩu thịt lợn của nước ta như Trung Quốc, Mỹ, các nước Tây và Đông Âu …
Nhận thức được những khó khăn trong chế biến thịt lợn xuất khẩu và nguy cơ
thị trường bị thu hẹp do gặp phải sự cạnh tranh rất mạnh mẽ về giá xuất khẩu của
các nước khác nư Trung Quốc, Braxin… Nguyên nhân là do chi phí thức ăn cho
chăn nuôi cao. Thiếu vốn đầu tư, thiếu thông tin về thị trường, chính sách hỗ trợ
của nhà nước còn nhiều bất cập. Thêm vào đó, hầu hết các thiết bị dành cho chế
biến thịt lợn của các nhà máy đều lạc hậu, sẩn phẩm chủ yếu chỉ là thịt đông lạnh
và tập trung xuất khẩu cho 2 thị trường chính là Nga và Hồng Kông.
Để thấy được khả năng cạnh tranh của sản phẩm thịt lợn đề tài đưa ra 2 kịch
bản: Thuế =0 và giá nguyên liệu chế biến thức ăn giảm 5%-10%-15%; giá thành

sản xuất giảm 5%-10%-15% so với ban đầu nhờ tăng năng suất. Kết quả cho thấy,
với mỗi kịch bản độc lập, sản phẩm thịt lợn vẫn có lợi thế so sánh. Từ những ưu và
hạn chế trên, để chăn nuôi lợn phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa và sử dụng
tốt lợi thế so sánh của các mặt hang thịt lợn xuất khẩu, cần phải giải quyết triệt để
những hạn chế trên.
Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn.
nhỏ, chất lượng mẫu sản phẩm còn nhiều hạn chế. Ngoài ra thị trường thịt lợn thế giớigần đây đang có nhiều dịch chuyển đã có những ảnh hưởng tác động không nhỏ đến tình hìnhphát triển chăn nuôi lợn của vùng. Xu thế hội nhập kinh tế tài chính quốc tế đã tạo ra nhiềucơ hội cho loại sản phẩm của vùng, Cùng với việc tận dụng những lợi thế sẵn có, cầnphân tích tìm ra những ưu điểm yếu kém của ngành chăn nuôi lợn nhằm mục đích nâng caonăng lực sẩn xuất và năng lực cạnh tranh đối đầu của loại sản phẩm thịt lợn trong vùng. Thịt lợn là một mẫu sản phẩm chính trong việc xuất khẩu của ngành nông nghiệp ViệtNam. So với toàn ngành chăn nuôi, lệch giá và doanh thu từ việc xuất khẩu thịtlợn ra quốc tế là khá cao chiếm trên 76 % tổng sản lượng thịt những loại trongnước, vì lúc bấy giờ đa phần Nước Ta mới chỉ xuất khẩu được những loại sản phẩm từ thịtlợn và thịt gà. Nắm bắt được vai trò to lớn của việc chăn nuôi lợn để xuất khẩu thịtlợn sang thị trường quốc tế là một việc quan trọng, nên Nhà nước ta đã đầu tưđúng mức vào việc chăn nuôi lợn. Nhằm tăng năng lực chế biến ra những sản phẩmchăn nuôi như “ Giống Lợn lại kinh tế tài chính ” cho ra loại sản phẩm thịt lợn tốt đạt tiêu chuẩnquôc tế, thì ta mới hoàn toàn có thể cạnh tranh đối đầu trên thị trường quốc tế để xuất khẩu thịt lợn. Mới đây, thịt lợn là một trong những mẫu sản phẩm tăng giá mạnh nhất ” thịt lợn tăngcao hơn cả vàng ” gần gấp đôi trong hơn 1 năm qua. Thịt lợn khởi đầu tăng nhẹnhưng do đi kèm với những thông tin khan hiếm nguồn cung do dịch bệnh, xuấtkhẩu ồ ạt sang Trung Quốc khiến đà tăng giá ngày càng kinh khủng. Bên cạnh đó, Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn. Marketing Căn Bảngiá thịt lợn tiêu thụ trong nước luôn cao hơn thịt xuất khẩu cũng là một khó khăncho những doanh nghiệp. Chúng ta vẫn nhập khẩu thịt lợn với sản lượng tăng nhanh, đặc biệt quan trọng là sau khi xảy ra dịch lợn tai xanh, sản lượng thịt lợn nhập khẩu tăng đángkể. Nguồn nhập khẩu thịt lợn đa phần là châu Âu ( EU ) với khoảng chừng 85,9 %, tiếptheo là Hồng Kông 12,7 %, Mỹ 1 % Tình trạng này khiến người sản xuất chỉ quantâm đến tiêu thụ trong nước mà coi nhẹ xuất khẩu. Hàng rào bảo lãnh ( thuế quan ) của mộtsố nước nhập khẩu thịt lợn trên quốc tế cùng với những diễn biến thị trường nhưhiện nay thì thịt lợn xuất khẩu của Nước Ta đang có rủi ro tiềm ẩn bị thu hẹp. Phát triển xuất khẩu mặt hàng thịt lợn không những có ý nghĩa về mặt kinh tế tài chính màcòn có ý nghĩa rất to lớn về những mặt chính trị và xã hội. Đó là, tăng thu nguồnngoại tệ, nâng cao đời sống xã hội, tạo công ăn việc làm, đặc biệtgiải quyết đượcmột số lượng lớn lao động ở nông thôn. Tuy nhiên trước sức ép tăng giá và thịtrường xuất khẩu đang dần bị thu hẹp như lúc bấy giờ thì đó là 1 những thử thách vàkhó khăn lớn. Bởi vậy tất cả chúng ta cùng đi khám phá : “ Thị trường và giá cả thịt lợnxuấtkhẩucủa Nước Ta ” II.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU : – Cơ sở lí luận thực tiễn thị trường xuất khẩu và giá thịt lợn ở Nước Ta. Nhằm góp thêm phần Thực hiện chủ trương đưa chăn nuôi trở thành ngành sảnxuất sản phẩm & hàng hóa chính, ” Chiến lược tăng trưởng chăn nuôi đến năm 2020 “. – Đánh giá tình hình tăng trưởng sản xuất và xuất khẩu cũng với sự dịch chuyển vềgiá cả thị trường thịt lợn. – Phân tích tìm ra những ưu điểm yếu kém của ngành chăn nuôi lợn nhằm mục đích nângcao năng lượng sẩn xuất và năng lực cạnh tranh đối đầu của loại sản phẩm thịt lợn trongvùng. Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn. Marketing Căn BảnIII. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU – Thu thập tài liệu từ nguồn thông tin thứ cấp ( luận văn, tài liệu nghiên cứukhoa học, internet … ) – Xu hướng và Sự tăng nhanh về giá cả thịt lợn trong nước. – Các chỉ số giá tiêu dùng, được Tổng cục Thống kê công bố. – Phân tích lợi thế so sánh và thời cơ của loại sản phẩm thịt lợn của Nước Ta trongxu thế hội nhập. – Phương pháp tổng hợp thống kê và xử lý số liệu. – Phương pháp so sánh theo những năm. IV.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨUA.Tìm Hiểu Vai Trò, Thị Trường Và Giá Cả Xuất Khẩu Thịt Lợn. 1. Vai Trò Của Chăn Nuôi Xuất Khẩu Thịt Lợn Ở Nước Ta. Đối với nền kinh tế tài chính nông nghiệp là đa phần thì việc tăng trưởng ngành chăn nuôithành ngành mũi nhọn, trong những năm gần đây, tỉ trọng giá trị chăn nuôi trongcơ cấu tổng giá trị sản xuất nông nghiệp được nâng lên đáng kể, đến nay đã đạtmức 20,5 – 21,2 %. Vì là ngành mũi nhọn của Nước Ta nên hầu hết những hộ gia đìnhở nông thôn Nước Ta đều chăn nuôi gà lợn, bò, dêNắm bắt được vai trò to lớn của việc chăn nuôi lợn để xuất khẩu thịt lợn sang thịtrường quốc tế là một việc quan trọng nên Nhà nước ta đã góp vốn đầu tư đúng mứcvào việc chăn nuôi lợn. Một số trang trại và hợp tác xã nuôi lợn với quy mô lớn đãđược mở ra link với những TT khoa học để vận dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật trong khâu lai tạo giống, chọn giống, phòng trừ bệnh tật, tăng khả năngchế biến ra những mẫu sản phẩm chăn nuôi từ lợn đạt chất lượng cao ship hàng khôngNhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn. Marketing Căn Bảnnhững cho người tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu nhiều ra thị trường thếgiới. Chính vì nhận thức đó mà giống lợn thuần chủng của Nước Ta là giống lợn ỉn, cótỷ lệ nạc cao, thịt thơm nhưng khối lượng thấp ( khoảng chừng 40 kg / con ), khả năngphòng bệnh không cao đã được lai tạo với giống lợn siêu nạc có khối lượng cao, năng lực phòng bệnh cao của giống lợn Bắc Kinh, giống lợn Bạch Nga để cho ramột giống lợn mà ta thường gọi là “ giống lợn lai kinh tế ”. Giống lợn này có trọnglượng từ 85 – 120 kg, cho ra loại sản phẩm thịt lợn tốt đạt tiêu chuẩn quốc tế, ta mới cóthể cạnh tranh đối đầu trên thị trường quốc tế để xuất khẩu được thịt lợn. Đây là một mặthàng chính trong việc xuất khẩu của ngành nông nghiệp Nước Ta. Một năm ViệtNam xuất khẩu những mẫu sản phẩm từ thịt lợn ( lợn ướp lạnh : 10 000 tấn / năm ; lợn tươi : 3000 tấn / năm ; những loại sản phẩm được chế biến 30 000 tấn / năm ) sang thị trường Nga, SNG, Hồng Kông, Nhật Bản Lợi nhuận thu được từ việc xuất khẩu thịt lợn ranước ngoài đạt 1,2 triệu USD / năm. Doanh thu từ viêc xuất khẩu thịt lợn ra cácthị trường quốc tế đạt 15 triệu USD / năm ( năm 2007 ). Hiện nay, với số lượng trên27, 3 triệu con lợn năm 2010, Nước Ta đứng thứ 4 trong list 10 nước có sốlượng lợn nhiều nhất trên quốc tế và đứng thứ 6 trên quốc tế về sản lượng thịt lợn. Tốc độ tăng đàn lợn đạt trên 3,4 %, tổng sản lượng thịt đạt 2,88 triệu tấn tăng 4,1 % so với năm 2008. Bảng 1. SỐ LƯỢNG LỢN QUA MỘT SỐ NĂM GẦN ĐÂYNăm Số lợn ( nghìn con ) Tăng / giảm sovới nămtrước ( % ) SL Thịt ( nghìn tấn ) Tăng / giảm sovới năm trước ( % ) Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn. Marketing Căn Bản2006 26855,30 – 2,10 2505,10 9,472007 26560,70 – 1,10 2662,70 6,292008 26701,60 0,50 2771,00 4,072009 27627,73 3,47 2931,42 5,802010 27373,15 – 0,99 3027,26 10,33 Nguồn : Số liệu Cục Chăn Nuôi2. Thị Trường Xuất Khẩu Thịt Lợn : Theo số liệu thống kê tại thời gian 01/4/2010, cả nước có 27,3 triệu con, tăng3, 06 % so với cùng kỳ năm 2009. Các vùng có số đầu lợn nhiều là vùng ĐBSH có7, 2 triệu con, chiếm 27,1 % tổng đàn lợn trong cả nước ; Đông Bắc 4,6 triệu con, chiếm 17,3 % ; ĐBSCL 3,6 triệu con, chiếm 13,6 % ; Bắc Trung Bộ 3,4 triệu con, chiếm 12,9 % ; ĐNB 2,5 triệu con, chiếm 9,3 % ; DHNTB 2,4 triệu con, chiếm9, 0 %. Các tỉnh có số đầu lợn lớn trên 1 triệu con tại thời gian 01/4/2010 là Thành Phố Hà Nội, Đồng Nai, Nghệ An, Tỉnh Thái Bình, Bắc Giang. Theo ước tính của Cục Chăn nuôi, mỗitháng cả nước sản xuất và tiêu thụ khoảng chừng 290 – 300 ngàn tấn thịt lợn hơi. Dự báo, tổng sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng sản xuất trong 06 tháng đầu năm 2011 khoảng chừng 1,77 triệu tấn, tăng khoảng chừng 3,5 % so với cùng kỳ năm 2010. Trong đó, cácvùng sản xuất thịt lợn có tỷ trọng lớn nhất lần lượt là : ĐB Sông Hồng khoảng chừng 29 % ; ĐB sông Cửu Long khoảng chừng 18 % ; Đông Nam Bộ khoảng chừng 12 %. Bên cạnh số đầu lợn tăng thì sản lượng thịt sản xuất ra hàng năm cũng tăng lên rấtđáng kể. Năm 2001 sản lượng thịt lợn sản xuất ra chỉ đạt 1.515.299 tấn, đến 2005 đạt 2.205.100 tấn và năm 2009 đạt 2.500.000 tấn. Mặc dù năm 2009 số đầu con đãgiảm hơn năm 2005 tuy nhiên do cơ cấu tổ chức đàn lợn đã biến hóa, tỷ suất đàn lợn lai, lợn ngoạiNhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn. Marketing Căn Bảnthuần ngày càng tăng do đó khối lượng xuất chuồng tăng dẫn đến tổng sản lượngthịt tăng lên. Sản lượng thịt tăng đã góp thêm phần làm tăng lượng thịt tiêu thụ bìnhquân đầu người liên tục mỗi năm. Cục Chăn nuôi đang dự kiến tới cuối năm, nguồncung thịt lợn trong nước tăng khoảng chừng 5 – 6 %. Trong hai tháng gần đây, nguồn lợngiống đáp ứng cho thị trường đã tăng khoảng chừng 15 – 17 %. Theo ước tính, năm 2011, tổng sản lượng thịt lợn hơi cả nước hoàn toàn có thể đạt tới 3,3 triệu tấn. Với số lượng này, hoàn toàn có thể cung ứng đủ nhu yếu tiêu dùng trong nước, chưa cần đến nhập khẩu thịt lợn. Dự báo, cầu thịt những loại cuối năm khoảng chừng 1,7 – 1,8 triệu tấn thịt xẻ. 3 Xu Hướng Và Sự Tăng Nhanh Về Giá Thịt Lợn Trong Nước : Theo số liệu tiêu dùng tháng 7 năm 2010 của Cục Thống kê Thành Phố Hà Nội, giá những loạithịt lợn chỉ 45.000 – 70.000 đồng mỗi kg. Đến tháng 12 năm 2010, giá thịt lợn tại HàNội đã lên ngưỡng 70.000 – 90.000 đồng, tăng từ 25-50 % mỗi kg thịt. Không dừnglại, tính đến tháng 6 năm 2011, mức giá này bị đẩy lên đến 110.000 – 130.000. Nhưvậy, trong vòng một năm, giá thịt lợn tại những chợ ở Thành Phố Hà Nội đã tăng khoảng chừng 100 %. Hiện nay giá thịt lợn trong nước giao động từ 90.000 – 110.000 đồng / kg. Gía thịtlợn đã tăng tới 70 % trong những tháng vừa mới qua, nhất là từ tháng 4-2011 trở lại đây, mức tăng giá thịt lợn gần như ngoài tầm trấn áp. Theo tài liệu của Cục Quản lýgiá, mức giảm so với thịt lợn hơi tại miền Bắc chỉ khoảng chừng 1.000 đồng / kg, tươngứng khoảng chừng 1,5 % ; tại miền Nam khoảng chừng 3.000 – 4.000 đồng / kg, ứng với khoảng chừng 4-5 %. Xu hướng giảm giá những loại thực phẩm, đặc biệt quan trọng là thịt bò, gà … có nguyênnhân do nhu yếu không cao. Mặt khác, chăn nuôi đang có khunh hướng thuận tiện dodịch bệnh cơ bản được khống chế, người chăn nuôi có lãi do giá tiêu thụ tăng trênthị trường nên nguồn cung tăng. dịch chuyển về con giống ít hơn giá thịt, giá giốngchỉ tăng 30 %, trong khi giá heo hơi lại tăng gần 70 %. Tuy nhiên, do giá đầu ra cao, ở một số ít địa phương xảy ra thực trạng tái đàn ồ ạt khiến cho giá giống tăng lên caoNhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn. Marketing Căn Bảncục bộ, có nơi gần 100 %, thậm chí còn gà con đã lên tới 23.000 đồng / con. Hiện tại đasố những chợ ở Thành Phố Hà Nội, giá thịt lợn mông bán ra từ 100.000 – 105.000 đồng / kg, thịtlợn ba chỉ là 95.000 đồng / kg. Nguồn cung đã đủ. Tại Bắc Giang, Thành Phố Hải Dương, lợnhơi do tư thương mua tại chuồng đã giảm nhiều so với cách đây nửa tháng. Cụ thể, lợn hơi khối lượng từ 70-80 kg / con có giá từ 51-52. 000 đồng / kg. Để lý giải hiện tượng kỳ lạ giá heo luôn tăng ở mức cao này, một số ít thương lái cho biếtcó đến 30 % lượng heo xuất chuồng lúc bấy giờ tại khu vực Đông Nam Bộ này đượccác thương lái gom hàng mang ra Bắc và xuất khẩu sang Trung Quốc. Có thể nóiđây là hiện tượng kỳ lạ ” đục nước béo cò ” của nhiều người làm ăn kinh doanh thương mại khi giá cảtrong nước luôn rơi vào thực trạng lạm phát kinh tế phi mã nhưng vẫn vì tư lợi cá thể màxuất khẩu sang quốc tế. Đứng trước yếu tố này, thiết nghĩ những cơ quan quản lývà cơ quan chức năng nên trấn áp chặt khu vực cửa khẩu này. 4. Phân tích lợi thế so sánh và thời cơ của loại sản phẩm thịt lợn của VIỆT NAMtrong xu thế hội nhập. + ) Các ngữ cảnh hội nhập quốc tế : Nhận thức được những khó khăn vất vả trong chế biếnthịt lợn xuất khẩu và rủi ro tiềm ẩn thị trường bị thu hẹp do gặp phải sự cạnh tranh đối đầu rấtmạnh mẽ về giá xuất khẩu của những nước khác nư Trung Quốc, Braxin, … Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích lợi thế so sánh của những ngành hàng lợn xuất khẩu, trong bốicảnh chung của quy trình hội nhập chúng tôi đưa ra một số ít ngữ cảnh giả định nhưsau : – Tỷ giá hối đoái chính thức dùng trong đề tài là OER = 15,75 / 1USD – Tỷ giá hối đoái bóng ( mờ ) dùng trong đề tài là SER = 1,2 * OER – Các ngân sách Marketing và ngân sách khác giữ nguyên. Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn. Marketing Căn Bản  Kịch Bản 1 : Giả sử thuế nhập khẩu những nguyên vật liệu dành cho chế biến thứcăn được miễn giảm trọn vẹn ( thuế nhập khẩu = 0 ) và giá tiền sản xuấtgiảm kéo theo ngân sách trung bình của chăn nuôi giảm ( yếu tố khác khôngđổi ), điều gì sẽ xảy ra so với ngành chăn nuôi lợn thịt xuất khẩu của vùngnghiên cứu ?  Thuế nhập khẩu nguyên vật liệu = 0 và giá nguyên vật liệu tiêu dùng giảm 5 % sovới mức giá trong thực tiễn khởi đầu.  Thuế nhập khẩu nguyên vật liệu = 0 và giá nguyên vật liệu tiêu dùng giảm 10 % sovới mức giá thực tiễn bắt đầu.  Thuế nhập khẩu nguyên vật liệu = 0 và giá nguyên vật liệu tiêu dùng giảm 15 % sovới mức giá thực tiễn khởi đầu. Bảng 2 : Lợi thế so sánh của ngành hàng lợn xuất khẩu theo ngữ cảnh 1T ính cho 1 tấn lợn hơi Lợn choai Lợn sữa1. Giá trị mẫu sản phẩm ( US $ / tấn hơi ) 1.240,00 1.508,992. Tổng chi phía. Trong nước ( 1000 đ / tấn ) 11.278,14 15.103,38 b. Nước ngoài ( US $ / tấn ) 238,77 101,33 Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn. Marketing Căn Bản-Thuế = 0 và giá nguyên vật liệu chế biến TĂ giảm 5 % 227,46 96,21 – Thuế = 0 và giá nguyên vật liệu chế biến TĂ giảm 10 % 217,12 89,28 – Thuế = 0 và giá nguyên vật liệu chế biến TĂ giảm15 % 206,78 79,923. DRC11, 44 10,76 – Thuế = 0 và giá nguyên vật liệu chế biến TĂ giảm 5 % 11,14 10,76 – Thuế = 0 và giá nguyên vật liệu chế biến TĂ giảm 10 % 11,03 10,64 – Thuế = 0 và giá nguyên vật liệu chế biến TĂ giảm 15 % 10,92 10,584. DRC / SER0, 61 0,57 – Thuế = 0 và giá nguyên vật liệu chế biến TĂ giảm 5 % 0,589 0,566 – Thuế = 0 và giá nguyên vật liệu chế biến TĂ giảm 10 % 0,583 0,563 – Thuế = 0 và giá nguyên vật liệu chế biến TĂ giảm 15 % 0,578 0,559 Nguồn : thống kê giám sát từ số liệu tìm hiểu. Theo tác dụng bảng trên nếu giảm giá nguyên vật liệu thức ăn, ngân sách khấu thành 1 tấnlợn hơi xuất chuồng giảm đáng kể. Để xử lý yếu tố này, nhà nước cần khuyếnkhích những đơn vị sản xuất nguyên vật liệu trong nước tăng cường góp vốn đầu tư lan rộng ra diệntích sản xuất, tăng năng xuất và chất lượng những nguyên vật liệu chính. Ngoài ra cần ưutiên khuyến khích những doanh nghiệp trong nước góp vốn đầu tư công nghệ tiên tiến sản xuất cácnguyên liệu nhu yếu kỹ thuật cao, hạn chế góp vốn đầu tư hoàn hảo từ doanh nghiệp nướcngoài. Tóm lại muốn nghành hàng lợn xuất khẩu tăng trưởng, không còn con đườngnào khác là phải tìm mọi cách hạ giá loại sản phẩm chăn nuôi để có được lợi thế củamình trên thị trường quốc tế. Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn. Marketing Căn Bản  Kịch bản 2 : Giả xử người chăn nuôi ứng dụng những văn minh kỹ thuật mới vàosản xuất làm cho năng xuất chăn nuôi tăng lên ( yếu tố khác không đổi ), điềugì sẽ xảy ra so với ngành chăn nuôi lợn thịt xuất khẩu của vùng nghiêncứu ?  Giá thành giảm 5 % so với giá tiền sản xuất khởi đầu nhờ tăng hiệu suất.  Giá thành giảm 10 % so với giá tiền sản xuất bắt đầu nhờ tăng hiệu suất.  Giá thành giảm 15 % so với giá tiền sản xuất khởi đầu nhờ tăng hiệu suất. Bảng 3 : Lợi thế so sánh của ngành hàng lợn xuất khẩu theo ngữ cảnh 2T ính cho 1 tấn lợn hơi Lợn choai Lợn sữa1. Giá trị mẫu sản phẩm ( US $ / tấn hơi ) 1.240,00 1.508,992. Tổng chi phía. Trong nước ( 1000 đ / tấn ) 11.278,14 15.103,38 – Giảm giá tiền sản xuất 5 % 10.714,23 14.351,69 – Giảm giá tiền sản xuất 10 % 10.150,32 13.596,33 – Giảm giá tiền sản xuất 15 % 9.586,42 12.840,98 b. Nước ngoài ( US $ / tấn ) 254,4 105,63. DRC11, 44 10,76 – Giảm giá tiền sản xuất 5 % 11,14 10,76 – Giảm giá tiền sản xuất 10 % 10,87 10,23 – Giảm giá tiền sản xuất 15 % 10,30 9,69 Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn. Marketing Căn Bản4. DRC / SER0, 61 0,57 – Giảm giá tiền sản xuất 5 % 0,58 0,54 – Giảm giá tiền sản xuất 10 % 0,54 0,51 – Giảm giá tiền sản xuất 15 % 0,51 0,48 Nguồn : thống kê giám sát từ số liệu tìm hiểu. Áp dụng tân tiến khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất là hướng đi rất khả quan, nhằm mục đích tăng hiệu suất và chất lượng mẫu sản phẩm, hạ giá tiền sản xuất và điều đó dẫnđến tăng sức cạnh tranh đối đầu trên thị trường xuất khẩu. Từ hiệu quả giám sát cho thấy khi giá tiền sản xuất lợn xuất khẩu giảm sẽ làmtăng lợi thế so sánh lên khá nhiều trải qua những chỉ tiêu DRC và DRC / SER. Nhưvậy qua chỉ tiêu DRC cho thấy tất cả chúng ta sẽ mất ít đồng nội tệ hơn để thu được mộtđồng ngoại tệ trải qua những hoạt động giải trí xuất khẩu cho cả 2 loại loại sản phẩm lợn choaivà lợn sữa. B.Thực Trạng Xuất Khẩu Thịt Lợn Ở Nước Ta. 1. Thị trường xuất khẩu thịt lợn của việt nam đang bị thu hẹpGiá thịtcủa Nước Ta khó canh tranh với trung quốc. 4 tháng đầu năm, cả nước mớixuất được trên 2 nghìn tấn thịt lợn, giảm 32 % so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, Tổng công ty Chăn nuôi Nước Ta, một trong những doanh nghiệp xuất khẩu lớnnhất cả nước, cũng chỉ đạt khoảng chừng 300 tấn, so với kế hoạch cả năm là 14.000 tấn. Trung Quốc, đối thủ cạnh tranh chính của Nước Ta, ngay từ đầu năm đã chào bán thịt lợnxuất khẩu với giá khá thấp : 1.200 USD / tấn lợn choai ( trước là 1.300 – 1.400 USD / tấn ) và 1.400 USD / tấn lợn sữa ( trước là 1.500 – 1.600 USD / tấn ). Riêng với thịNhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn. Marketing Căn Bảntrường Nga, giá chỉ còn 1.150 USD / tấn. Theo những chuyên viên, nếu những doanh nghiệpViệt Nam xuất với giá trên thì sẽ bị lỗ khoảng chừng 3 triệu đồng / tấn. Tại thị trường Nga, thịt lợn đến từ Brazil cũng cạnh tranh đối đầu nóng bức với hàng xuất khẩu của ViệtNam. Nếu như lượng xuất của Brazil vào Nga năm 2001 chỉ đạt vài nghìn tấn, thìnăm ngoái đã vươn tới số lượng 170.000 tấn. Bên cạnh đó, giá thịt lợn tiêu thụ trongnước luôn cao hơn thịt xuất khẩu cũng là một khó khăn vất vả cho những doanh nghiệp. Hiện giá 1 tấn thịt lợn mảnh tại thị trường trong nước đã là 17 triệu đồng. Tìnhtrạng này khiến người sản xuất chỉ chăm sóc đến tiêu thụ trong nước mà coi nhẹ xuấtkhẩu. Các chuyên viên đánh giá và nhận định, với những diễn biến thị trường như lúc bấy giờ thìthịt lợn xuất khẩu của Nước Ta khó hoàn toàn có thể tránh khỏi rủi ro tiềm ẩn mất dần thị trường. 2. Xuất khẩu thịt lợn chỉ có tính thời vụ : Trong khi giá thịt lợn ở trong nước tăng cao do thiếu nguồn cung thì lợn sữa lạiđang được xuất khẩu sang Trung Quốc với số lượng khá lớn. Theo lý giải của Bộtrưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát thì việc làm này chỉmang tính thời vụ. Cách đây 10 năm, lợn sữa là một trong những mẫu sản phẩm xuấtkhẩu thế mạnh của Nước Ta, thị trường tiêu thụ hầu hết là Trung Quốc. Nhiềunăm trở lại đây, xuất khẩu lợn sữa của nước ta bị mất thị trường, trong khi nhiềuloại thịt của quốc tế đã tràn vào nước ta, khiến Nước Ta từ nước xuất khẩu thịttrở thành nước nhập khẩu ròng những loại thịt. Việc xuất khẩu thịt lợn diễn ra vàothời điểm này chỉ có đặc thù thời vụ, do diễn biến về cung và cầu ở thị trường TrungQuốc và Nước Ta. Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn. Marketing Căn BảnC. Giải Pháp : 1. Giải pháp thị trường : Nhà nước cần tương hỗ những doanh nghiệp chăn nuôi, xuất khẩu thịt lợn vào những thịtrường tiềm năng mà thịt lợn Việt nam hoàn toàn có thể xâm nhập trong thời hạn tới đó là thịtrường Hồng Kông, Liên Bang Nga, Nhật Bản, Nước Singapore, Malaysia và TrungQuốc. Ngoài ra Nhà nước cần tương hỗ những doanh nghiệp lan rộng ra thị trường xuấtkhẩu thịt lợn sang những nước khác, trải qua những nước khác bằng thực thi thươngmại, thông tin quảng cáo, tổ chức triển khai khảo sát ra mắt mẫu sản phẩm trải qua những cơquan đại diện thay mặt ở quốc tế như Tham tán thương mại, ngoại giao. Tổ chức nghiêncứu thị trường tư vấn giúp những doanh nghiệp xuất khẩu thịt lợn có điều kiện kèm theo tiếpcận với những thị trường mới trên cơ sở lợi thế. Kết hợp những giải pháp khác : 1. Giải pháp góp vốn đầu tư vốn2. Giải pháp về chủ trương thuế3. Quy hoạch chăn nuôi4. Tổ chức sản xuất5. Khoa học công nghệ6. Thông tin thị trường và chuyển giao văn minh kỹ thuật chăn nuôi. V.KẾT LUẬNTrên cơ sở tình hình xuất khẩu thịt lợn của Nước Ta trong thời hạn qua và quátrình nghiên cứu và điều tra thị trường của những nước nhập khẩu thịt lợn trên quốc tế trong thờikỳ đến 2011, xu thế tăng trưởng thị trường xuất khẩu thịt lợn của nước ta sẽtăng vào những thị trường tiềm năng mà loại sản phẩm thịt lợn của Nước Ta có khảNhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn. Marketing Căn Bảnnăng xâm nhập trong thời hạn tới, gồm : Thị trường Nga, Hồng Kông, Nước Singapore vàMalaysia, Nhật, Nam Trung Quốc, Thị trường những nước Khu vực Đông Nam Á. Ngoài cácthị trường trên cần liên tục tăng cường công tác làm việc triển khai thương mại, thông tin thịtrường và đàm phán để ký kết hoặc thoả thuận những Hiệp định thú y với những nướcnhập khẩu thịt lợn của nước ta như Trung Quốc, Mỹ, những nước Tây và Đông Âu … Nhận thức được những khó khăn vất vả trong chế biến thịt lợn xuất khẩu và nguy cơthị trường bị thu hẹp do gặp phải sự cạnh tranh đối đầu rất can đảm và mạnh mẽ về giá xuất khẩu củacác nước khác nư Trung Quốc, Braxin … Nguyên nhân là do ngân sách thức ăn chochăn nuôi cao. Thiếu vốn góp vốn đầu tư, thiếu thông tin về thị trường, chủ trương hỗ trợcủa nhà nước còn nhiều chưa ổn. Thêm vào đó, hầu hết những thiết bị dành cho chếbiến thịt lợn của những nhà máy sản xuất đều lỗi thời, sẩn phẩm đa phần chỉ là thịt đông lạnhvà tập trung chuyên sâu xuất khẩu cho 2 thị trường chính là Nga và Hồng Kông. Để thấy được năng lực cạnh tranh đối đầu của loại sản phẩm thịt lợn đề tài đưa ra 2 kịchbản : Thuế = 0 và giá nguyên vật liệu chế biến thức ăn giảm 5 % – 10 % – 15 % ; giá thànhsản xuất giảm 5 % – 10 % – 15 % so với bắt đầu nhờ tăng hiệu suất. Kết quả cho thấy, với mỗi ngữ cảnh độc lập, loại sản phẩm thịt lợn vẫn có lợi thế so sánh. Từ những ưu vàhạn chế trên, để chăn nuôi lợn tăng trưởng theo hướng sản xuất sản phẩm & hàng hóa và sử dụngtốt lợi thế so sánh của những mặt hang thịt lợn xuất khẩu, cần phải xử lý triệt đểnhững hạn chế trên. Nhóm 1 Thị trường và giá cả xuất khẩu thịt lợn .