15 TIỂU LUẬN: NÔNG SẢN VIỆT NAM – KHÓ KHĂN, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ppt – Tài liệu text mới nhất

TIỂU LUẬN: NÔNG SẢN VIỆT NAM – KHÓ KHĂN, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (678.42 KB, 18 trang )

Bạn đang đọc: TIỂU LUẬN: NÔNG SẢN VIỆT NAM – KHÓ KHĂN, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ppt – Tài liệu text

TIỂU LUẬN
NÔNG SẢN VIỆT NAM

1
MỤC LỤC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 3
1. Tính cấp thiết của đề tài 3
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài 5
II. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 5
1. Giới thiệu chung về nông sản Việt Nam 5
2. Thực trạng của nông sản Việt Nam hiện nay Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế,
hoạt động xuất, nhập khẩu nông sản đã thu nhiều thành quả to lớn, là tiền đề nâng cao thu
nhập cho khoảng 70% dân số khu vực nông thôn. Đáng chú ý là tổng kim ngạch xuất khẩu
liên tục tăng năm sau cao hơn năm trước. Nếu như năm 2006, nước ta xuất khẩu đạt 10,8
tỷ USD thì đến năm 2010 đã đạt tới 19,15 tỷ USD, tăng gần 22,8% so với năm 2009 và
vượt 77,3% so với mục tiêu Đại hội lần thứ X của Đảng đề ra (tăng bình quân 17%/năm).
Đáng mừng là thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam tiếp tục được mở rộng và thay
đổi về cơ cấu thị trường theo hướng có lợi. Ấn tượng nhất trong số các mặt hàng nông sản
thời gian qua và nổi bật trong năm 2010 là thủy sản, đồ gỗ, gạo, cà phê, cao su, hạt điều,
hạt tiêu Trong số 18 mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD của cả nước,
ngành nông nghiệp chiếm tới 6 mặt hàng. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 4,95 tỷ
USD; lâm sản và đồ gỗ 3,63 tỷ USD; gạo 3,2 tỷ USD; cao su 2,3 tỷ USD; cà phê 1,76 tỷ
USD và hạt điều 1,1 tỷ USD. Nông sản Việt Nam đã có mặt ở 150 quốc gia và vùng lãnh
thổ 6
9
III. NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM 12
IV. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM 14
1. Cơ hội của nông sản Việt Nam 14
2. Thách thức cho nông sản Việt Nam 16
V. KẾT LUẬN 16
2

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ ngàn xưa Nông nghiệp đã là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam.Từ sau năm
1975, khi đất nước được giải phóng cho đến nay Việt Nam vẫn là một nước nông
nghiệp, tuy nhiên không còn là nước nông nghiệp thuần túy nữa mà Việt Nam đã trở
thành một ngước Nông – Công nghiệp. Giờ đây các sản phẩm trong nông nghiệp đã
ngày một đa dang hơn, phong phú hơn cả về chủng loại, mẫu mã và ngày một hoàn
thiện hơn về chất lượng. Từ một nền Nông Nghiệp nghèo nàn lạc hậu, không đủ cung
cấp lương thực, thực phẩm cho nền kinh tế quốc dân, thì giờ đây Nông Nghiệp Việt
Nam đã không những cung cấp đủ lương thực thực phẩm cho thị trường trong nước
mà còn vươn ra các thị trường nước ngoài. Nhà nước ta đã xác định nông sản là mặt
hàng xuất khẩu quan trọng tạo ra nguồn thu ban đầu cực kỳ cần thiết cho phát triển
kinh tế đất nước. Chúng ta đã vươn lên thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới, hàng
nông sản của chúng ta đã có mặt ở 150 nước và nhiều thị trường trên thế giới, trong
đó có những thị trường lớn rất khó tính như: EU, Mỹ và Nhật Bản. Thực tế đã chứng
minh thời gian qua Việt Nam đã thành công đáng kể trong việc nâng cao giá trị cũng
như chất lượng hàng nông sản xuất khẩu vào thị trường trên thế giới. Tuy nhiên, để
hàng nông sản thực sự có sức cạnh tranh trên những thị trường này lại là một vấn đề
không đơn giản. Trong những năm qua, tăng trưởng kinh tế, nông nghiệp luôn giữ vai
trò quan trọng và đã tạo thế ổn định cho cả nền kinh tế. Đặc biệt, vào những thời điểm
cam go nhất của nền kinh tế, nông nghiệp và xuất khẩu nông sản đã thể hiện rõ vai trò
là nền tảng và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên
hiện nay ngành nông sản Việt Nam đang đứng trước những khó khăn và thách thức
lớn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ( WTO). Khi tham gia sân chơi quốc tế
Việt Nam luôn có những cơ hội để nâng cáo sức cạnh tranh, giá trị xuất khẩu nông
sản với các nước khác. Vấn đề đặt ra là chúng ta sẽ nắm bắt những cơ hội ấy như thế
nào? Chính vì lý do trên mà chúng em đã chọn đề tài “Nông sản Viêt Nam – khó
khăn, cơ hội và thách thức” để tìm hiểu rõ hơn về Nông sản Việt Nam và để nói lên
được thực trạng hiện nay của nông sản Việt Nam như: sản xuất, chế biến, xuất khẩu
3

và thị trường để từ đó đưa ra được giải pháp phát triển cho ngành nông sản của Việt
Nam.
4
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
 Mục đích của đề tài
• Tìm hiểu về nông sản của Việt Nam
• Phân tích đánh giá thực trạng nông sản của Việt Nam hiện nay
• Nêu lên khó khăn, cơ hội, thách thức cho nông sản của Việt nam
 Yêu cầu của đề tài
• Nói lên được thực trạng hiện nay của nông sản Việt Nam như: sản
xuất, chế biến, xuất khẩu và thị trường.
• Đưa ra được giải pháp phát triển cho ngành nông sản của Việt Nam
II. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
1. Giới thiệu chung về nông sản Việt Nam
 Nông sản là những sản phẩm hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động sản
xuất nông nghiệp. Nông nghiệp thực hiện những công việc gì thì có những loại nông
sản đó kể cả trong trồng trọt, chăn nuôi gia cầm, gia súc, thuỷ hải sản như: lúc, ngô,
khoai, rau, đậu, gà, vịt, heo, bò, cá, tôm
 Ở Việt Nam với đặc trưng là một nước nông nghiệp, điều kiện khí hậu,
thổ nhưỡng đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành sản xuất hàng nông sản phát triển.
Một số mặt hàng nông sản đã là thế mạnh của Việt Nam trong thời gian qua như: gạo,
cà phê, cao su, tiêu, hạt điều, chè
5
2. Thực trạng của nông sản Việt Nam hiện nay
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất, nhập khẩu nông sản đã
thu nhiều thành quả to lớn, là tiền đề nâng cao thu nhập cho khoảng 70% dân số
khu vực nông thôn. Đáng chú ý là tổng kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng năm sau
cao hơn năm trước. Nếu như năm 2006, nước ta xuất khẩu đạt 10,8 tỷ USD thì đến
năm 2010 đã đạt tới 19,15 tỷ USD, tăng gần 22,8% so với năm 2009 và vượt 77,3%
so với mục tiêu Đại hội lần thứ X của Đảng đề ra (tăng bình quân 17%/năm).

Đáng mừng là thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam tiếp tục được mở rộng
và thay đổi về cơ cấu thị trường theo hướng có lợi.
Ấn tượng nhất trong số các mặt hàng nông sản thời gian qua và nổi bật trong năm
2010 là thủy sản, đồ gỗ, gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu Trong số 18 mặt
hàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD của cả nước, ngành nông nghiệp
chiếm tới 6 mặt hàng. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 4,95 tỷ USD; lâm
sản và đồ gỗ 3,63 tỷ USD; gạo 3,2 tỷ USD; cao su 2,3 tỷ USD; cà phê 1,76 tỷ USD
và hạt điều 1,1 tỷ USD. Nông sản Việt Nam đã có mặt ở 150 quốc gia và vùng lãnh
thổ.
 Tình hình sản xuất hàng nông sản của Việt Nam
• Lúa gạo: Việt Nam hiện đang là nước xuất khẩu lúa gạo đứng thứ
hai thế giới. Với hai vùng sản xuất xuất lúa gạo chính là đồng bằng Sông Hồng và
đồng bằng sông Cửu Long. Với tổng diện tích trồng lúa cả nước là 7440.1 nghìn ha
hàng năm sản xuất ra trung bình 33 -34 triệu tấn thóc hàng năm. Năm 1989, lần đầu
trong lịch sử, nước ta xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 310 triệu USD, và
liên tiếp trong mười năm sau, sản lượng lương thực nước ta mỗi năm tăng một triệu
tấn. Cho đến năm 2005, Việt Nam xuất khẩu 5,2 triệu tấn, đạt 1,4 tỷ USD. Năm 2008
kim ngạch xuất khẩu gạo của nước ta đạt con số kỷ lục là gần 3 tỷ USD với sản lượng
xuất khẩu có 4.7 triệu tấn. Đến năm 2009 ta đạt kỷ lục về sản lượng xuất khẩu là 6
triệu tấn gạo nhưng chỉ thu về được có 2.6 tỷ. Dự kiến năm 2011 sản lượng lúa gạo
cả nước sẽ đạt được 39.75 triệu tấn.
6
h1: Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam, giai đoạn 2000 – 2009
( Số liệu từ http://www.tapchicongsan.org.vn)
7
• Cà phê: Được đưa vào trồng thử nghiệm ở Việt Nam năm 1875 ở
một số nhà thờ tại Hà Nam, Quảng Bình, Kontum Đến thế kỷ hai mươi, cây cà
phê bắt đầu được trồng phổ biến với quy mô lớn ở Nghệ An, Daklak và Lâm
Đồng. Cho đến năm 1975, khi đất nước thống nhất, diện tích cà phê của cả nước
có khoảng trên 13.000 ha, cho sản lượng 6.000. Việt Nam vốn là nước sản xuất cà

phê chỉ đứng sau Brazil và là nước đứng đầu về sản xuất cà phê vối. Theo số liệu từ
Vicofa, tốc độ tăng trưởng bình quân diện tích đất trồng cà phê đạt khoảng 15% trong
những năm 90, và tới cuối thế kỷ 20 cả nước đã có khoảng nửa triệu hecta cà phê.
Nếu năm 1985, năng suất cà phê Việt Nam mới ở mức 1 tấn/ha thì 20 năm sau năng
suất đó đã đạt bình quân 1,7 tấn/ha, trong đó có một số năm đạt bình quân 2-2,5
tấn/ha. Bình quân trong 20 năm mỗi hecta cà phê đã cho sản lượng hàng năm là 1,68
tấn. Hiện nay hầu hết cà phê nhân được sản xuất ra là để phục vụ xuất khẩu. Sản
lượng xuất khẩu của Việt Nam đạt 600.000-700.000 tấn cà phê nhân mỗi năm. Hai vụ
cà phê 2000-2001 và 2003-2004 đã xuất khẩu trên 800.000 tấn cà phê. Theo thống kê
của Tổng cục hải quan thì xuất khẩu cà phê trong 2 tháng đầu năm 2011 đạt 289.6
nghìn tấn, trị giá 585.9 triệu USD, tăng 33% về lượng và 90% về giá trị so với cùng
kỳ năm 2010. Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn dự báo khối lượng xuất khẩu
cà phê năm 2011 ước lượng đạt hơn 1.2 triệu tấn với giá trị hơn 2.6 tỷ USD.
H2: Thng kê khi lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007 – tháng 3/2010
nguồn:http://www.tinthuongmai.vnx
8
• Hồ tiêu: Ở Việt Nam hồ tiêu được trồng tập trung chủ yếu ở
Daklak, Gia Lai và một số tỉnh ở Miền Đông Nam Bộ. Diện tích hồ tiêu của cả nước
là 50.5 nghìn ha ( 2009). Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), quý 1/2009 nước ta
xuất khẩu được trên 27.075 tấn hạt tiêu với kim ngạch 65,9 triệu USD, tăng 93% về
sản lượng và 31,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2008. Năm 2010 sản lượng hồ tiêu
trong nước có giảm so với năm 2009. Nhưng giá hồ tiêu trong nước lại tăng liên tục
từ năm 2007 – 2010. Mức giá cao nhất ghi nhận được là 125 nghìn đồng / kg hồ tiêu
trắng. Giá tiêu xuất khẩu cũng tăng do nhu cầu tiêu của thế giới tăng, cụ thể là trong
năm 2010 giá tiêu đen xuất khẩu loại có dung trọng 550 gr/lít ngày 15/12 đạt 4.500
USD/tấn, tăng hơn 1.500 USD (tương đương 53%) so với cùng kỳ năm ngoái trong
khi giá tiêu trắng xuất khẩu hiện ở mức 6.750 USD/tấn, tăng gần 60% so với cùng kỳ
năm 2009 và tăng 51,7% (tương đương 2.300 USD/tấn) so với thời điểm đầu tháng
6/2010. Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam nhận định sản lượng hồ tiêu nước ta năm 2011 dự
báo đạt 100 ngàn tấn, tăng 5% so với năm 2010.

Xem thêm: Thị trường – Wikipedia tiếng Việt

H3: Diện tích – sản lượng – xuất khẩu ( hồ tiêu).
Nguồn:http://xttm.agroviet.gov.vn
9
• Một số mặt hàng nông sản khác như thủy sản, đồ gỗ có kim
ngạch xuất khẩu đạt trên 3 tỷ USD, cao su có kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỷ
USD, hạt điều là 1 tỷ USD. Theo số liệu thống kê sơ bộ cho thấy xuất khẩu gỗ và
sản phẩm gỗ của cả năm 2010 đạt 3,4 tỷ USD, tăng so với cùng kỳ là 31,2%. Ba thị
trường lớn nhất là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, chiếm 66,3% tỷ trọng, đều tăng
trưởng khá, trong đó, Trung Quốc gấp 2 lần so với cùng kỳ năm 2009. Lượng xuất
khẩu cao su 2010 đạt được trên 760.000 tấn, cộng thêm thuận lợi về giá xuất khẩu nên
kim ngạch đạt trên 2,23 tỷ USD (tăng gần gấp đôi so với năm trước).
 Thực trạng công nghệ chế biến nông sản của Việt Nam
• Hàng nông sản của Việt Nam ở vị trí khá cao so với các quốc gia
khác, hàng nông sản của ta có mặt hầu hết trên tất cả các thị trường của thế giới
nhưng lượng ngoại tệ thu về từ hàng nông sản vẫn còn rất khiêm tốn do giá xuất khẩu
các mặt hàng nông sản như gạo, cà phê, cao su, hạt điều đều bán thấp hơn giá thế
giới từ 20 – 40USD, thậm chí còn thấp hơn. Công nghệ và các cơ sở chế biến nông
sản của Việt Nam trong thời gian dài ít được quan tâm đầy đủ, một phần do khó khăn
về nguồn vốn đầu tư nên trình độ công nghệ thấp và chậm được đổi mới, tổn thất sau
thu hoạch còn rất lớn.
• Cơ sở chế biến hàng nông sản xuất khẩu còn ít như ngành cà phê
mới chỉ có khoảng 20 cơ sở chế biến công nghiệp hoàn chỉnh, chủ yếu là sơ chế đảm
bảo chiếm khoảng 30% sản lượng cà phê/năm. Mặt hàng hạt điều tuy đã phát triển
nhanh và chuyển từ xuất khẩu điều thô sang xuất khẩu nhân hạt điều nhưng mức độ
cơ giới hóa trong quy hoạch quy trình công nghệ chế biến điều còn thấp, các nhà máy
mới chỉ thu đựoc sản phẩm chính để xuất khẩu là nhân điều, chưa áp dụng được quy
trình “chế biến không phế liệu” để thu hoạch các sản phẩm chính và các sản phẩm
phụ, nên đã đạt hiệu quả kinh tế thấp. Vì vậy các nhà máy chế biến chưa thể nâng cao
được giá thu mua các mặt hàng nông sản thô từ nông dân, một yếu tố để kích thích
nông dân tích cực gieo trồng hàng nông sản.

Đa số công nghệ của ta còn giản đơn, thô sơ, lạc hậu, mang nặng tính kinh nghiệm,
thậm chí những điều kiện tối thiểu sân phơi, máy sấy, kho bảo quản cũng không đủ.
 Tình hình tiêu thụ nông sản trong nước hiện nay
• Hàng nông sản là sản phẩm thiết yếu của mọi người dân như gạo,
chè, cà phê tuy vậy do mức sống của nhân dân ta còn thấp nên các sản phẩm nông
sản được sản xuất ra chủ yếu là phục vụ cho xuất khẩu mà tiêu thụ cho thị trường
trong nước chủ yếu là các sản phẩm thô, thứ cấp với giá rẻ hơn gấp nhiều lần như mặt
hàng cà phê tiêu thụ trong nội địa chỉ đạt khoảng 6000 tấn/năm chiếm 1,5 – 2% tổng
sản lượng cà phê sản xuất ra. Tuy vậy, với mức sống như hiện nay, hơn
300USD/người/năm thì nhu cầu của người dân đã được cải thiện do đó nhu cầu về
tiêu thụ nông sản ở thị trường trong nước cũng sẽ tăng lên nghĩa là mức tiêu thụ nội
địa sẽ tăng.
 Tình hình xuất khẩu nông sản của Việt Nam
10
• Có thể nhận xét rằng nhóm mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu
của Việt Nam đều có tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng bình quân của thế giới và
cao hơn nhiều so với các đối thủ cạnh tranh như Thái Lan (ở mặt hàng gạo và cà phê),
Indonexia về cà phê, cao su kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam so với Thái Lan
có xu hướng tăng từ dưới 30% (trước năm 1998) lên mức cao hơn trong năm 2000
nhưng với giá cả hạ hơn, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam so với
Ấn Độ cũng tăng mạnh, kim ngạch xuất khẩu cao su của Việt Nam so với Thái Lan
cũng tăng mạnh nhưng tốc độ lại chậm hơn các sản phẩm khác từ 5,87% năm 1992
lên 13,6% năm 2000.
• Theo tổng cục thống kê thì hai tháng đầu năm 2011, xuất khẩu
nông sản chủ lực của nước ta bao gồm: cà phê, chè, hồ tiêu, điều, gạo và cao su trong
2 tháng đầu năm tăng mạnh về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2010 nhờ giá tăng.
Hiện nước ta đang đứng đầu thế giới về xuất khẩu điều và hồ tiêu, đứng thứ hai về
xuất khẩu cà phê và gạo, thứ 4 về xuất khẩu cao su và thứ 5 về xuất khẩu chè.Thị
trường xuất khẩu nông sản chính của Việt Nam là Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc…
H4: Nguồn : tincaosu.com

11
III. NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM
 Yếu tố thời tiết đóng vai trò rất lớn đối với sản lượng và chất lượng
nông sản. Nông nghiệp của Việt Nam còn phụ thuộc rất lớn vào yếu tố thời tiết. Hiện
nay sự biến đổi thời tiết do hiện tượng nóng lên toàn cầu đang ngày một biểu hiện rõ
và ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp. Cụ thể là ở đồng bằng sông Cửu
Long, khi mực nước biển tăng lên thì tình trạng nước biển xâm nhập vào đất liền ngày
càng tăng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc trồng lúa.
 Nhìn chung, tuy Việt Nam đã bước đầu hình thành các vùng sản xuất
hàng hóa tập trung nhưng khối lượng hàng hóa còn nhỏ bé, thị phần trên thế giới thấp,
chất lượng chưa đồng đều và ổn định. Việt Nam chưa hình thành được các vùng
chuyên canh sản xuất hàng tươi sống và vùng nguyên liệu tập trung cho các nhà máy
chế biến lớn theo yêu cầu kỹ thuật và kinh tế. Điển hình như là gạo của Việt Nam
chưa đảm bảo độ đồng nhất về quy cách chất lượng ngay trong từng lô gạo, bao bì
đóng gói kém hấp dẫn và chưa có nhãn thương hiệu của doanh nghiệp mình trên vỏ
bao bì. Điều này làm giá gạo của Việt Nam không cạnh tranh được với giá gạo của
Thái Lan trên thị trường.
 Phần lớn các loại giống cây con hiện đang được nông dân sử dụng có
năng suất và chất lượng thấp, trên địa bàn cả nước chưa hình thành được một hệ thống
cung ứng giống cây con tốt cho người sản xuất. Hầu hết người nông dân đã tự sản
xuất giống cây con cho mình hoặc mua giống trên thị trường trôi nổi mà không có sự
đảm bảo về chất lượng. Ta có thể thấy năng suất lúa của Việt Nam chỉ bằng 61% năng
suất lúa của Trung Quốc và thấp thua nhiều so với lúa của Nhật Bản, Italia, Mỹ.
 So với các đối thủ cạnh tranh, Việt Nam có công nghệ chế biến lạc hậu,
chưa đảm bảo chất lượng sản phẩm theo yêu cầu tiêu dùng của các thị trường khó tính
như Nhật Bản, EU, Bắc Mỹ. Mặt khác, kết cấu hạ tầng phục vụ cho việc vận chuyển,
bảo quản dự trữ, bốc xếp hàng hóa nông sản, rất yếu kém nên giá thành sản phẩm và
phí gián tiếp khác tăng nhanh. Ví dụ: do công suất bốc xếp ở cảng Sài Gòn là 1000
tấn/ngày chỉ bằng 1/2 công suất cảng Băng Cốc (Thái Lan), cho nên cảng phí cho 1
tàu chở gạo 10000 tấn ở Việt Nam là 40000 USD, còn ở cảng Băng Cốc là 20000

USD, như vậy là chi phí tại cảng trong khâu bốc xếp của Việt Nam đã cao hơn gấp
đôi so với cảng Băng Cốc.
 Năng lực quản lý sản xuất kinh doanh, chế biến và xuất khẩu nông sản
chưa đáp ứng được yêu cầu trong điều kiện tự do hóa thương mại, đặc biệt là khâu
marketing, dự tính dự báo thị trường. Mối liên kết kinh tế giữa các khâu sản xuất – chế
biến – xuất khẩu, giữa khâu cung ứng vật tư đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra, giữa
khâu kỹ thuật với khâu kinh tế chưa thiết lập được một cách vững chắc để đảm bảo
sự ổn định về số lượng và chất lượng cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh hàng
nông sản xuất khẩu theo yêu cầu của thị trường.
12
 Tuy chủng loại hàng hóa xuất khẩu của ta đa dạng hơn nhưng nhìn
chung thì diện mặt hàng vẫn còn khá đơn điệu, chưa có sự thay đổi đột biến về chủng
loại, về chất lượng, xuất khẩu chủ yếu vẫn dựa vào một vài mặt hàng chủ lực, truyền
thống như gạo, cà phê, cao su, hải sản làm khả năng cạnh tranh ngày càng giảm dần.
 Bộ máy quản lý hành chính Nhà nước vẫn còn quan liêu, trì trệ, chưa
thông thoáng và bảo thủ đã làm nản lòng các nhà đầu tư kinh doanh trong và ngoài
nước và làm tăng giá thành sản xuất và giá thành sản phẩm xuất nhập khẩu. Do vậy,
lợi thế tiềm năng không thể phát huy hết được. Bên cạnh đó thuế nhập khẩu, kể cả
hàng rào phi thuế quan, của nước ta hiện nay có lẽ ở vào hàng cao nhất khu vực, cao
hơn cả Trung Quốc, trong khi mức thuế quan của nhiều quốc gia Đông Á hiện chỉ còn
vào khoảng 4 – 6%. Thuế doanh thu của ta ở mức 32%, cũng vào hàng cao nhất khu
vực. Thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, phụ thu đều ở mức cao. Thuế thu nhập đối
với người nước ngoài của ta hiện ở mức cao nhất trong khu vực, là 50%, trong khi ở
Inđônêx
 Trong quá trình tự do hóa thương mại, một số doanh nghiệp kinh doanh
hàng nông, lâm, thủy sản làm ăn thua lỗ, không có khả năng cạnh tranh sẽ bị phá sản
theo quy luật.
Nguồn:http://www.vkc.vn
13
IV. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM

1. Cơ hội của nông sản Việt Nam
 Cơ hội đầu tiên lại chính là tỷ lệ quan trọng của nông sản và thủy sản
trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam. Cùng với các ngành hàng xuất khẩu quan trọng
khác như may mặc và giày da, nông lâm thủy sản là những ngành hàng sử dụng nhiều
nguồn lực lao động tại chỗ hơn là nguồn vốn đầu tư nước ngoài, do đó sẽ bị tác động
ít hơn so với hai lĩnh vực tài chính và bất động sản.
 Nông sản xuất khẩu còn có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt
nam vì liên quan đến hơn 70% dân số, là một thị trường lớn cho các ngành hàng sản
xuất khác. Khi xuất khẩu nông sản được giữ ổn định và tăng trưởng, cả nền kinh tế có
nhiều cơ hội hơn để phát triển.
 Vai trò của ngành nông nghiệp trong việc ổn định kinh tế của Việt Nam
đã được chứng minh trong quá khứ. Năm 1989, công nghiệp tăng trưởng âm, nhưng
sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh nên cứu được khủng hoảng. Đến năm 1999,
một lần nữa, công nghiệp – dịch vụ đều chựng lại, chỉ có nông nghiệp tăng trưởng tốt
nên đã cứu được nền kinh tế đang bên bờ vực khủng hoảng.
 Việt Nam vẫn là một quốc gia nông nghiệp không có nguồn vốn tài
chính dồi dào, thế mạnh của Việt Nam trong cạnh tranh quốc tế là nguồn lực lao động
sẵn có và rẻ tiền. Viêt Nam có thể nhập khẩu nông sản thô với giá rẻ hơn từ các nước
láng giềng để chế biến và xuất khẩu đến các thị trường quốc tế đã có.
 Các nhà xuất khẩu nông sản Việt Nam cũng có thể tìm kiếm các cơ hội
trong giai đoạn ngắn hạn hiện nay khi đa dạng hóa thị trường và ngay tại thị trường
nội địa. Khi thị trường thế giới đang bị suy giảm, một thị trường sẵn có với hơn 80
triệu người là cần thiết để có thể giúp các nhà xuất khẩu nông sản giải tỏa lượng hàng
tồn dư trong ngắn hạn, duy trì sản xuất và đảm bảo việc làm cho người lao động
 Một cơ hội khác chính là giá thành thấp của nông sản Việt Nam, đặc
biệt là mặt hàng thủy sản với giá rẻ ta có thể chiếm lĩnh các thị trường chính như Mỹ,
Eu.
 Khi Việt Nam gia nhập WTO cơ hội mở ra cho ngành nông nghiệp nói
chung và mặt hàng nông sản nói riêng cũng rất nhiều. Khi đó Nhà nước sẽ có những
chính sách để phát triển nông nghiệp, mặt hàng nông sản sẽ dễ dàng tiếp cận với thị

trường thế giới hơn.
 Khả năng liên kết 4 nhà, liên kết các ngành, vùng sẽ thực chất hơn và
mang tính bền vững hơn. Triển vọng thu hút đầu tư nước ngoài, hợp tác quốc tế trong
nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng sẽ tốt hơn môi trường kinh doanh, môi
trường đầu tư sẽ được cải thiện, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài
Nguồn: http://agrbacgiang.vn
14
15
2. Thách thức cho nông sản Việt Nam
• Trước mắt là sự phục hồi chậm của nền kinh tế thế giới,
đặc biệt là những diễn biến gần đây về khủng hoảng nợ của một số nước
châu Âu sẽ tác động bất lợi đến xuất khẩu nông sản.
• Phải giải quyết được vấn đề rào cản thương mại của các thị
trường chủ lực của nông sản Việt Nam. Như việc cá tra, tôm, cá rô phi Việt
Nam bị đưa vào “danh sách đỏ” ở một số nước châu Âu, tôm tiếp tục bị áp
thuế bán phá giá tại Mỹ…
• Phải xây dựng được dựng chiến lược nâng sức cạnh tranh
các mặt hàng nông, lâm, thủy sản trên thương trường. Đặc biệt là khi Việt
Nam đã mở cửa hội nhập kinh tế và tự do hóa thương mại toàn cầu chắn
chắn sẽ sễ ra sự cạnh tranh rất gay gắt và quyết liệt.
• Ngành nông nghiệp phải tập trung thực hiện tiêu chuẩn
VietGAP nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn và nâng cáo chất lượng cho mặt
hàng nông sản tạo ra sức cạnh tranh.
• Cần đổi mới công nghệ khai thác, chế biến xuất khẩu. Xây
dựng những vùng chuyên canh, vùng nguyên liệu tập trung. Đa dạng hóa
các mặt hàng nông sản, đảm bảo đáp ứng tốt các đòi hỏi khắt khe của thị
trường
• Cần hỗ trợ và hướng dẫn các doanh nghiệp mở rộng thị
trường xuất khẩu; phối hợp với các địa phương tổ chức hoạt động xúc tiến
thương mại; xây dựng và quản lý chất lượng nông sản hàng hóa, hướng

Xem thêm: Thời Trang Nữ giá sỉ, bán buôn Tháng 2, 2022 – Thị Trường Sỉ

dẫn các doanh nghiệp đăng ký và bảo vệ thương hiệu.
• Tích cực thực hiện kế hoạch hành động về hội nhập kinh tế
quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đã ký kết; tạo môi trường
đầu tư, kinh doanh bình đẳng, minh bạch, ổn định, thông thoáng, có tính
cạnh tranh cao để kinh tế Việt Nam sớm được công nhận là nền kinh tế thị
trường.
Nguồn:http://www.tantruonghung.com.vn
V. KẾT LUẬN
Mặc dù là một nước đang phát triển, nông nghiệp vẫn là ngành chủ lực của nền kinh
tế nhưng Việt Nam vẫn có những lợi thế riêng, điển hình như chi phí sản xuất có
nguồn gốc ngoại tệ của hàng nông sản thấp sẽ làm cho thu nhập ngoại tệ ròng của
16
hàng nông sản xuất khẩu cao hơn so với các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu như
hàng dệt may, giầy da hay cơ khí… Ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản là ngành sử
dụng nhiều lao động vào quá trình sản xuất – kinh doanh, đây là một ưu thế vì hàng
năm nước ta phải giải quyết thêm việc làm cho 1,4 triệu người bước vào tuổi lao
động. Điều kiện tự nhiên của một số vùng ở nước ta rất thuận lợi cho việc phát triển
sản xuất một số loại rau quả vụ đông có hiệu quả như cà chua, bắp cải, tỏi, khoai tây
Một số ít nông sản được các nước phát triển ở châu âu; Bắc Mỹ ưa chuộng như nhân
hạt điều, dứa, lạc lại có thể trồng ở Việt Nam trên các đất bạc màu, đồi núi trọc (như
điều) hay trên đất phèn, mặn (như dứa). Ngoài ra khi nước ta gia nhập WTO đã làm
giảm giá các loại tư liệu sản xuất, giúp người dân tiếp cận được các tiến bộ khoa học
của thế giới. Cuối cùng là vì có thể chế chính trị ổn định, môi trường đầu tư, hệ thống
pháp luật ngày càng được cải thiện đã tạo sự an tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài
vào Việt Nam.
Với những lợi thế trên, chúng ta cần có những giải pháp để phát huy nhằm phát triển
nền kinh tế. Cụ thể là Chính phủ cần có chính sách quy hoạch cho từng địa phương
nhằm nâng cao lợi thế so sánh từng vùng. Đồng thời cũng cần có các biện pháp hỗ trợ
người nông dân thông qua các ưu đãi về sử dụng đất, tín dụng, đầu tư… Hiện nay hầu
hết các cơ sở hạ tầng ở các vùng sản xuất nông nghiệp đã bị xuống cấp hoặc hư hại,

chính vì vậy mà nhà nước cần phải đầu tư xây dựng lại cơ sở hạ tầng ở các cùng nông
thôn. Đặc biệt là chú trọng vào hệ thống giao thông, thủy lợi, điện, nước sạch. Nhà
nước cũng cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu phát triển khoa học kỹ thuật và các
hoạt động nghiên cứu phát triển giống cầy trồng vật nuôi. Tăng cường công tác
khuyến nông để có thể đưa giống cây trồng và vật nuôi mới có năng suất chất lượng
cao hơn đi vào sản xuất. Nâng cao dân trí cho vùng nông thôn, phát triển thêm hệ
thống trường học, nâng cao chất lượng trường lớp tại các vùng nông thôn. Tạo điều
kiện cho người nông dân tiếp cận vốn thông qua phát triển thị trường tài chính nông
thôn. Nhà nước cần có biện pháp để hình thành mối liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ,
thúc đẩy hơn nữa mối liên kết “4 nhà”, đặc biệt là mối liên kết giữa nhà nông và
doanh nghiệp. Nâng cao vai trò của các hiệp hội và của hội nông dân Việt Nam, các
hiệp hội ngành nghề (hiệp hội cao su, hiệp hội cà phê,…) đóng vai trò quan trọng làm
cầu nối giữa người nông dân với các cơ quan chức năng. Cần đẩy mạnh tạo lập
thương hiệu cho hàng hóa nông sản Việt Nam. Đối với các ngành sản phẩm tạo ra giá
trị xuất khẩu cao, đã chiếm lĩnh được vị thế trên thị trường thế giới, cần tiếp tục nâng
cao chất lượng sản phẩm để duy trì và nâng cao thương hiệu hàng hóa. Xây dựng và
phát triển các sàn giao dịch hàng hóa nông sản tập trung là đầu mối để người nông
dân tiếp cận thị trường cũng như các doanh nghiệp tiếp cận với nguồn sản xuất, giảm
thiểu các khâu trung gian. Tóm lại, trong thời gian tới, VN cần có những đột phá
mạnh hơn cả về nhận thức, nới lỏng chính sách, tạo các điều kiện và nhân tố đảm bảo
khác nhằm tăng cường đổi mới, đồng bộ hóa và đột phá chính sách nhằm tạo động
lực phát triển kinh tế nông nghiệp tạo tiền đề phát triển cho các mặt hàng nông sản nói
riêng.
17
Nguồn:
1. http://www.vkc.vn
2. http://agrbacgiang.vn
3. http://www.tantruonghung.com.vn
18

I. ĐẶT VẤN ĐỀ1. Tính cấp thiết của đề tàiTừ ngàn xưa Nông nghiệp đã là ngành kinh tế tài chính quan trọng của Việt Nam. Từ sau năm1975, khi quốc gia được giải phóng cho đến nay Việt Nam vẫn là một nước nôngnghiệp, tuy nhiên không còn là nước nông nghiệp thuần túy nữa mà Việt Nam đã trởthành một ngước Nông – Công nghiệp. Giờ đây những loại sản phẩm trong nông nghiệp đãngày một đa dang hơn, đa dạng chủng loại hơn cả về chủng loại, mẫu mã và ngày một hoànthiện hơn về chất lượng. Từ một nền Nông Nghiệp nghèo nàn lỗi thời, không đủ cungcấp lương thực, thực phẩm cho nền kinh tế tài chính quốc dân, thì giờ đây Nông Nghiệp ViệtNam đã không những cung ứng đủ lương thực thực phẩm cho thị trường trong nướcmà còn vươn ra những thị trường quốc tế. Nhà nước ta đã xác lập nông sản là mặthàng xuất khẩu quan trọng tạo ra nguồn thu bắt đầu cực kỳ thiết yếu cho phát triểnkinh tế quốc gia. Chúng ta đã vươn lên thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 quốc tế, hàngnông sản của tất cả chúng ta đã xuất hiện ở 150 nước và nhiều thị trường trên quốc tế, trongđó có những thị trường lớn rất khó chiều chuộng như : EU, Mỹ và Nhật Bản. Thực tế đã chứngminh thời hạn qua Việt Nam đã thành công xuất sắc đáng kể trong việc nâng cao giá trị cũngnhư chất lượng hàng nông sản xuất khẩu vào thị trường trên quốc tế. Tuy nhiên, đểhàng nông sản thực sự có sức cạnh tranh đối đầu trên những thị trường này lại là một vấn đềkhông đơn thuần. Trong những năm qua, tăng trưởng kinh tế tài chính, nông nghiệp luôn giữ vaitrò quan trọng và đã tạo thế không thay đổi cho cả nền kinh tế tài chính. Đặc biệt, vào những thời điểmcam go nhất của nền kinh tế tài chính, nông nghiệp và xuất khẩu nông sản đã bộc lộ rõ vai tròlà nền tảng và tạo ra lợi thế cạnh tranh đối đầu cho Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiênhiện nay ngành nông sản Việt Nam đang đứng trước những khó khăn vất vả và thách thứclớn trong quy trình hội nhập kinh tế tài chính quốc tế ( WTO ). Khi tham gia sân chơi quốc tếViệt Nam luôn có những thời cơ để nâng cáo sức cạnh tranh đối đầu, giá trị xuất khẩu nôngsản với những nước khác. Vấn đề đặt ra là tất cả chúng ta sẽ chớp lấy những thời cơ ấy như thếnào ? Chính vì nguyên do trên mà chúng em đã chọn đề tài “ Nông sản Viêt Nam – khókhăn, thời cơ và thử thách ” để tìm hiểu và khám phá rõ hơn về Nông sản Việt Nam và để nói lênđược tình hình lúc bấy giờ của nông sản Việt Nam như : sản xuất, chế biến, xuất khẩuvà thị trường để từ đó đưa ra được giải pháp tăng trưởng cho ngành nông sản của ViệtNam. 2. Mục đích và nhu yếu của đề tài  Mục đích của đề tài • Tìm hiểu về nông sản của Việt Nam • Phân tích nhìn nhận tình hình nông sản của Việt Nam lúc bấy giờ • Nêu lên khó khăn vất vả, thời cơ, thử thách cho nông sản của Việt nam  Yêu cầu của đề tài • Nói lên được tình hình lúc bấy giờ của nông sản Việt Nam như : sảnxuất, chế biến, xuất khẩu và thị trường. • Đưa ra được giải pháp tăng trưởng cho ngành nông sản của Việt NamII. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU1. Giới thiệu chung về nông sản Việt Nam  Nông sản là những loại sản phẩm sản phẩm & hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động giải trí sảnxuất nông nghiệp. Nông nghiệp thực thi những việc làm gì thì có những loại nôngsản đó kể cả trong trồng trọt, chăn nuôi gia cầm, gia súc, thuỷ món ăn hải sản như : lúc, ngô, khoai, rau, đậu, gà, vịt, heo, bò, cá, tôm  Ở Việt Nam với đặc trưng là một nước nông nghiệp, điều kiện kèm theo khí hậu, thổ nhưỡng đã tạo điều kiện kèm theo thuận tiện cho ngành sản xuất hàng nông sản tăng trưởng. Một số loại sản phẩm nông sản đã là thế mạnh của Việt Nam trong thời hạn qua như : gạo, cafe, cao su đặc, tiêu, hạt điều, chè2. Thực trạng của nông sản Việt Nam hiện nayTrong toàn cảnh hội nhập kinh tế tài chính quốc tế, hoạt động giải trí xuất, nhập khẩu nông sản đãthu nhiều thành quả to lớn, là tiền đề nâng cao thu nhập cho khoảng chừng 70 % dân sốkhu vực nông thôn. Đáng quan tâm là tổng kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng năm saucao hơn năm trước. Nếu như năm 2006, nước ta xuất khẩu đạt 10,8 tỷ USD thì đếnnăm 2010 đã đạt tới 19,15 tỷ USD, tăng gần 22,8 % so với năm 2009 và vượt 77,3 % so với tiềm năng Đại hội lần thứ X của Đảng đề ra ( tăng trung bình 17 % / năm ). Đáng mừng là thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam liên tục được mở rộngvà biến hóa về cơ cấu tổ chức thị trường theo hướng có lợi. Ấn tượng nhất trong số những mẫu sản phẩm nông sản thời hạn qua và điển hình nổi bật trong năm2010 là thủy hải sản, đồ gỗ, gạo, cafe, cao su đặc, hạt điều, hạt tiêu Trong số 18 mặthàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD của cả nước, ngành nông nghiệpchiếm tới 6 loại sản phẩm. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu thủy hải sản đạt 4,95 tỷ USD ; lâmsản và đồ gỗ 3,63 tỷ USD ; gạo 3,2 tỷ USD ; cao su đặc 2,3 tỷ USD ; cafe 1,76 tỷ USDvà hạt điều 1,1 tỷ USD. Nông sản Việt Nam đã xuất hiện ở 150 vương quốc và vùng lãnhthổ.  Tình hình sản xuất hàng nông sản của Việt Nam • Lúa gạo : Việt Nam hiện đang là nước xuất khẩu lúa gạo đứng thứhai quốc tế. Với hai vùng sản xuất xuất lúa gạo chính là đồng bằng Sông Hồng vàđồng bằng sông Cửu Long. Với tổng diện tích quy hoạnh trồng lúa cả nước là 7440.1 nghìn hahàng năm sản xuất ra trung bình 33 – 34 triệu tấn thóc hàng năm. Năm 1989, lần đầutrong lịch sử vẻ vang, nước ta xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 310 triệu USD, vàliên tiếp trong mười năm sau, sản lượng lương thực nước ta mỗi năm tăng một triệutấn. Cho đến năm 2005, Việt Nam xuất khẩu 5,2 triệu tấn, đạt 1,4 tỷ USD. Năm 2008 kim ngạch xuất khẩu gạo của nước ta đạt số lượng kỷ lục là gần 3 tỷ USD với sản lượngxuất khẩu có 4.7 triệu tấn. Đến năm 2009 ta đạt kỷ lục về sản lượng xuất khẩu là 6 triệu tấn gạo nhưng chỉ thu về được có 2.6 tỷ. Dự kiến năm 2011 sản lượng lúa gạocả nước sẽ đạt được 39.75 triệu tấn. h1 : Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam, quá trình 2000 – 2009 ( Số liệu từ http://www.tapchicongsan.org.vn ) • Cà phê : Được đưa vào trồng thử nghiệm ở Việt Nam năm 1875 ởmột số nhà thời thánh tại Hà Nam, Quảng Bình, Kontum Đến thế kỷ hai mươi, cây càphê khởi đầu được trồng phổ cập với quy mô lớn ở Nghệ An, Daklak và LâmĐồng. Cho đến năm 1975, khi quốc gia thống nhất, diện tích quy hoạnh cafe của cả nướccó khoảng chừng trên 13.000 ha, cho sản lượng 6.000. Việt Nam vốn là nước sản xuất càphê chỉ đứng sau Brazil và là nước đứng đầu về sản xuất cafe vối. Theo số liệu từVicofa, vận tốc tăng trưởng trung bình diện tích quy hoạnh đất trồng cafe đạt khoảng chừng 15 % trongnhững năm 90, và tới cuối thế kỷ 20 cả nước đã có khoảng chừng nửa triệu hecta cafe. Nếu năm 1985, hiệu suất cafe Việt Nam mới ở mức 1 tấn / ha thì 20 năm sau năngsuất đó đã đạt trung bình 1,7 tấn / ha, trong đó có 1 số ít năm đạt trung bình 2-2, 5 tấn / ha. Bình quân trong 20 năm mỗi hecta cafe đã cho sản lượng hàng năm là 1,68 tấn. Hiện nay hầu hết cafe nhân được sản xuất ra là để ship hàng xuất khẩu. Sảnlượng xuất khẩu của Việt Nam đạt 600.000 – 700.000 tấn cafe nhân mỗi năm. Hai vụcà phê 2000 – 2001 và 2003 – 2004 đã xuất khẩu trên 800.000 tấn cafe. Theo thống kêcủa Tổng cục hải quan thì xuất khẩu cafe trong 2 tháng đầu năm 2011 đạt 289.6 nghìn tấn, trị giá 585.9 triệu USD, tăng 33 % về lượng và 90 % về giá trị so với cùngkỳ năm 2010. Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn dự báo khối lượng xuất khẩucà phê năm 2011 ước đạt đạt hơn 1.2 triệu tấn với giá trị hơn 2.6 tỷ USD.H 2 : Th  ng kê kh  i lượng cafe xuất khẩu của Việt Nam tiến trình 2007 – tháng 3/2010 nguồn : http://www.tinthuongmai.vnx• Hồ tiêu : Ở Việt Nam hồ tiêu được trồng tập trung chuyên sâu đa phần ởDaklak, Gia Lai và 1 số ít tỉnh ở Miền Đông Nam Bộ. Diện tích hồ tiêu của cả nướclà 50.5 nghìn ha ( 2009 ). Theo Thương Hội Hồ tiêu Việt Nam ( VPA ), quý 1/2009 nước taxuất khẩu được trên 27.075 tấn hạt tiêu với kim ngạch 65,9 triệu USD, tăng 93 % vềsản lượng và 31,8 % về giá trị so với cùng kỳ năm 2008. Năm 2010 sản lượng hồ tiêutrong nước có giảm so với năm 2009. Nhưng giá hồ tiêu trong nước lại tăng liên tụctừ năm 2007 – 2010. Mức giá cao nhất ghi nhận được là 125 nghìn đồng / kg hồ tiêutrắng. Giá tiêu xuất khẩu cũng tăng do nhu yếu tiêu của quốc tế tăng, đơn cử là trongnăm 2010 giá tiêu đen xuất khẩu loại có dung trọng 550 gr / lít ngày 15/12 đạt 4.500 USD / tấn, tăng hơn 1.500 USD ( tương tự 53 % ) so với cùng kỳ năm ngoái trongkhi giá tiêu trắng xuất khẩu hiện ở mức 6.750 USD / tấn, tăng gần 60 % so với cùng kỳnăm 2009 và tăng 51,7 % ( tương tự 2.300 USD / tấn ) so với thời gian đầu tháng6 / 2010. Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam nhận định và đánh giá sản lượng hồ tiêu nước ta năm 2011 dựbáo đạt 100 ngàn tấn, tăng 5 % so với năm 2010. H3 : Diện tích – sản lượng – xuất khẩu ( hồ tiêu ). Nguồn : http://xttm.agroviet.gov.vn• Một số mẫu sản phẩm nông sản khác như thủy hải sản, đồ gỗ có kimngạch xuất khẩu đạt trên 3 tỷ USD, cao su đặc có kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỷUSD, hạt điều là 1 tỷ USD. Theo số liệu thống kê sơ bộ cho thấy xuất khẩu gỗ vàsản phẩm gỗ của cả năm 2010 đạt 3,4 tỷ USD, tăng so với cùng kỳ là 31,2 %. Ba thịtrường lớn nhất là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, chiếm 66,3 % tỷ trọng, đều tăngtrưởng khá, trong đó, Trung Quốc gấp 2 lần so với cùng kỳ năm 2009. Lượng xuấtkhẩu cao su đặc 2010 đạt được trên 760.000 tấn, cộng thêm thuận tiện về giá xuất khẩu nênkim ngạch đạt trên 2,23 tỷ USD ( tăng gần gấp đôi so với năm trước ).  Thực trạng công nghệ tiên tiến chế biến nông sản của Việt Nam • Hàng nông sản của Việt Nam ở vị trí khá cao so với những quốc giakhác, hàng nông sản của ta xuất hiện hầu hết trên tổng thể những thị trường của thế giớinhưng lượng ngoại tệ thu về từ hàng nông sản vẫn còn rất nhã nhặn do giá xuất khẩucác mẫu sản phẩm nông sản như gạo, cafe, cao su đặc, hạt điều đều bán thấp hơn giá thếgiới từ 20 – 40USD, thậm chí còn còn thấp hơn. Công nghệ và những cơ sở chế biến nôngsản của Việt Nam trong thời hạn dài ít được chăm sóc khá đầy đủ, một phần do khó khănvề nguồn vốn góp vốn đầu tư nên trình độ công nghệ tiên tiến thấp và chậm được thay đổi, tổn thất sauthu hoạch còn rất lớn. • Cơ sở chế biến hàng nông sản xuất khẩu còn ít như ngành cà phêmới chỉ có khoảng chừng 20 cơ sở chế biến công nghiệp hoàn hảo, hầu hết là sơ chế đảmbảo chiếm khoảng chừng 30 % sản lượng cafe / năm. Mặt hàng hạt điều tuy đã phát triểnnhanh và chuyển từ xuất khẩu điều thô sang xuất khẩu nhân hạt điều nhưng mức độcơ giới hóa trong quy hoạch tiến trình công nghệ tiên tiến chế biến điều còn thấp, những nhà máymới chỉ thu đựoc loại sản phẩm chính để xuất khẩu là nhân điều, chưa vận dụng được quytrình ” chế biến không phế liệu ” để thu hoạch những loại sản phẩm chính và những sản phẩmphụ, nên đã đạt hiệu suất cao kinh tế tài chính thấp. Vì vậy những nhà máy sản xuất chế biến chưa thể nâng caođược giá thu mua những loại sản phẩm nông sản thô từ nông dân, một yếu tố để kích thíchnông dân tích cực gieo trồng hàng nông sản. Đa số công nghệ tiên tiến của ta còn giản đơn, thô sơ, lỗi thời, mang nặng tính kinh nghiệm tay nghề, thậm chí còn những điều kiện kèm theo tối thiểu sân phơi, máy sấy, kho dữ gìn và bảo vệ cũng không đủ.  Tình hình tiêu thụ nông sản trong nước lúc bấy giờ • Hàng nông sản là mẫu sản phẩm thiết yếu của mọi người dân như gạo, chè, cafe tuy nhiên do mức sống của nhân dân ta còn thấp nên những loại sản phẩm nôngsản được sản xuất ra đa phần là ship hàng cho xuất khẩu mà tiêu thụ cho thị trườngtrong nước đa phần là những mẫu sản phẩm thô, thứ cấp với giá rẻ hơn gấp nhiều lần như mặthàng cafe tiêu thụ trong nội địa chỉ đạt khoảng chừng 6000 tấn / năm chiếm 1,5 – 2 % tổngsản lượng cafe sản xuất ra. Tuy vậy, với mức sống như lúc bấy giờ, hơn300USD / người / năm thì nhu yếu của người dân đã được cải tổ do đó nhu yếu vềtiêu thụ nông sản ở thị trường trong nước cũng sẽ tăng lên nghĩa là mức tiêu thụ nộiđịa sẽ tăng.  Tình hình xuất khẩu nông sản của Việt Nam10 • Có thể nhận xét rằng nhóm loại sản phẩm nông sản xuất khẩu chủ yếucủa Việt Nam đều có vận tốc tăng trưởng cao hơn vận tốc tăng trung bình của quốc tế vàcao hơn nhiều so với những đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu như Vương Quốc của nụ cười ( ở mẫu sản phẩm gạo và cafe ), Indonexia về cafe, cao su đặc kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam so với Thái Lancó xu thế tăng từ dưới 30 % ( trước năm 1998 ) lên mức cao hơn trong năm 2000 nhưng với giá thành hạ hơn, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu cafe của Việt Nam so vớiẤn Độ cũng tăng mạnh, kim ngạch xuất khẩu cao su đặc của Việt Nam so với Thái Lancũng tăng mạnh nhưng vận tốc lại chậm hơn những loại sản phẩm khác từ 5,87 % năm 1992 lên 13,6 % năm 2000. • Theo tổng cục thống kê thì hai tháng đầu năm 2011, xuất khẩunông sản nòng cốt của nước ta gồm có : cafe, chè, hồ tiêu, điều, gạo và cao su đặc trong2 tháng đầu năm tăng mạnh về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2010 nhờ giá tăng. Hiện nước ta đang đứng đầu quốc tế về xuất khẩu điều và hồ tiêu, đứng thứ hai vềxuất khẩu cafe và gạo, thứ 4 về xuất khẩu cao su đặc và thứ 5 về xuất khẩu chè. Thịtrường xuất khẩu nông sản chính của Việt Nam là Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc … H4 : Nguồn : tincaosu. com11III. NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM  Yếu tố thời tiết đóng vai trò rất lớn so với sản lượng và chất lượngnông sản. Nông nghiệp của Việt Nam còn phụ thuộc vào rất lớn vào yếu tố thời tiết. Hiệnnay sự biến hóa thời tiết do hiện tượng kỳ lạ nóng lên toàn thế giới đang ngày một biểu lộ rõvà ảnh hưởng tác động không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp. Cụ thể là ở đồng bằng sông CửuLong, khi mực nước biển tăng lên thì thực trạng nước biển xâm nhập vào đất liền ngàycàng tăng, gây tác động ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc trồng lúa.  Nhìn chung, tuy Việt Nam đã trong bước đầu hình thành những vùng sản xuấthàng hóa tập trung chuyên sâu nhưng khối lượng sản phẩm & hàng hóa còn nhỏ bé, thị trường trên quốc tế thấp, chất lượng chưa đồng đều và không thay đổi. Việt Nam chưa hình thành được những vùngchuyên canh sản xuất hàng tươi sống và vùng nguyên vật liệu tập trung chuyên sâu cho những nhà máychế biến lớn theo nhu yếu kỹ thuật và kinh tế tài chính. Điển hình như là gạo của Việt Namchưa bảo vệ độ như nhau về quy cách chất lượng ngay trong từng lô gạo, bao bìđóng gói kém mê hoặc và chưa có nhãn tên thương hiệu của doanh nghiệp mình trên vỏbao bì. Điều này làm giá gạo của Việt Nam không cạnh tranh đối đầu được với giá gạo củaThái Lan trên thị trường.  Phần lớn những loại giống cây con hiện đang được nông dân sử dụng cónăng suất và chất lượng thấp, trên địa phận cả nước chưa hình thành được một hệ thốngcung ứng giống cây con tốt cho người sản xuất. Hầu hết người nông dân đã tự sảnxuất giống cây con cho mình hoặc mua giống trên thị trường trôi nổi mà không có sựđảm bảo về chất lượng. Ta hoàn toàn có thể thấy hiệu suất lúa của Việt Nam chỉ bằng 61 % năngsuất lúa của Trung Quốc và thấp thua nhiều so với lúa của Nhật Bản, Italia, Mỹ.  So với những đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu, Việt Nam có công nghệ tiên tiến chế biến lỗi thời, chưa bảo vệ chất lượng mẫu sản phẩm theo nhu yếu tiêu dùng của những thị trường khó tínhnhư Nhật Bản, EU, Bắc Mỹ. Mặt khác, kiến trúc Giao hàng cho việc luân chuyển, dữ gìn và bảo vệ dự trữ, bốc xếp sản phẩm & hàng hóa nông sản, rất yếu kém nên giá tiền mẫu sản phẩm vàphí gián tiếp khác tăng nhanh. Ví dụ : do hiệu suất bốc xếp ở cảng Hồ Chí Minh là 1000 tấn / ngày chỉ bằng 50% hiệu suất cảng Băng Cốc ( xứ sở của những nụ cười thân thiện ), vì vậy cảng phí cho 1 tàu chở gạo 10000 tấn ở Việt Nam là 40000 USD, còn ở cảng Băng Cốc là 20000USD, như vậy là ngân sách tại cảng trong khâu bốc xếp của Việt Nam đã cao hơn gấpđôi so với cảng Băng Cốc.  Năng lực quản trị sản xuất kinh doanh thương mại, chế biến và xuất khẩu nông sảnchưa phân phối được nhu yếu trong điều kiện kèm theo tự do hóa thương mại, đặc biệt quan trọng là khâumarketing, dự trù dự báo thị trường. Mối link kinh tế tài chính giữa những khâu sản xuất – chếbiến – xuất khẩu, giữa khâu đáp ứng vật tư nguồn vào và tiêu thụ loại sản phẩm đầu ra, giữakhâu kỹ thuật với khâu kinh tế tài chính chưa thiết lập được một cách vững chãi để đảm bảosự không thay đổi về số lượng và chất lượng cũng như hiệu suất cao sản xuất kinh doanh thương mại hàngnông sản xuất khẩu theo nhu yếu của thị trường. 12  Tuy chủng loại sản phẩm & hàng hóa xuất khẩu của ta phong phú hơn nhưng nhìnchung thì diện mẫu sản phẩm vẫn còn khá đơn điệu, chưa có sự biến hóa đột biến về chủngloại, về chất lượng, xuất khẩu hầu hết vẫn dựa vào một vài loại sản phẩm nòng cốt, truyềnthống như gạo, cafe, cao su đặc, món ăn hải sản làm năng lực cạnh tranh đối đầu ngày càng giảm dần.  Bộ máy quản trị hành chính Nhà nước vẫn còn quan liêu, ngưng trệ, chưathông thoáng và bảo thủ đã làm nản lòng những nhà đầu tư kinh doanh thương mại trong và ngoàinước và làm tăng giá thành sản xuất và giá tiền loại sản phẩm xuất nhập khẩu. Do vậy, lợi thế tiềm năng không hề phát huy hết được. Bên cạnh đó thuế nhập khẩu, kể cảhàng rào phi thuế quan, của nước ta lúc bấy giờ có lẽ rằng ở vào hàng cao nhất khu vực, caohơn cả Trung Quốc, trong khi mức thuế quan của nhiều vương quốc Đông Á hiện chỉ cònvào khoảng chừng 4 – 6 %. Thuế doanh thu của ta ở mức 32 %, cũng vào hàng cao nhất khuvực. Thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt quan trọng, phụ thu đều ở mức cao. Thuế thu nhập đốivới người quốc tế của ta hiện ở mức cao nhất trong khu vực, là 50 %, trong khi ởInđônêx  Trong quy trình tự do hóa thương mại, một số ít doanh nghiệp kinh doanhhàng nông, lâm, thủy hải sản làm ăn thua lỗ, không có năng lực cạnh tranh đối đầu sẽ bị phá sảntheo quy luật. Nguồn : http://www.vkc.vn13IV. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM1. Cơ hội của nông sản Việt Nam  Cơ hội tiên phong lại chính là tỷ suất quan trọng của nông sản và thủy sảntrong cơ cấu tổ chức xuất khẩu của Việt Nam. Cùng với những ngành hàng xuất khẩu quan trọngkhác như may mặc và giày da, nông lâm thủy hải sản là những ngành hàng sử dụng nhiềunguồn lực lao động tại chỗ hơn là nguồn vốn góp vốn đầu tư quốc tế, do đó sẽ bị tác độngít hơn so với hai nghành kinh tế tài chính và bất động sản.  Nông sản xuất khẩu còn có vai trò quan trọng trong nền kinh tế tài chính Việtnam vì tương quan đến hơn 70 % dân số, là một thị trường lớn cho những ngành hàng sảnxuất khác. Khi xuất khẩu nông sản được giữ không thay đổi và tăng trưởng, cả nền kinh tế tài chính cónhiều thời cơ hơn để tăng trưởng.  Vai trò của ngành nông nghiệp trong việc không thay đổi kinh tế tài chính của Việt Namđã được chứng tỏ trong quá khứ. Năm 1989, công nghiệp tăng trưởng âm, nhưngsản xuất nông nghiệp tăng trưởng mạnh nên cứu được khủng hoảng cục bộ. Đến năm 1999, một lần nữa, công nghiệp – dịch vụ đều chựng lại, chỉ có nông nghiệp tăng trưởng tốtnên đã cứu được nền kinh tế tài chính đang bên bờ vực khủng hoảng cục bộ.  Việt Nam vẫn là một vương quốc nông nghiệp không có nguồn vốn tàichính dồi dào, thế mạnh của Việt Nam trong cạnh tranh đối đầu quốc tế là nguồn lực lao độngsẵn có và rẻ tiền. Viêt Nam hoàn toàn có thể nhập khẩu nông sản thô với giá rẻ hơn từ những nướcláng giềng để chế biến và xuất khẩu đến những thị trường quốc tế đã có.  Các nhà xuất khẩu nông sản Việt Nam cũng hoàn toàn có thể tìm kiếm những cơ hộitrong quá trình thời gian ngắn lúc bấy giờ khi đa dạng hóa thị trường và ngay tại thị trườngnội địa. Khi thị trường quốc tế đang bị suy giảm, một thị trường sẵn có với hơn 80 triệu người là thiết yếu để hoàn toàn có thể giúp những nhà xuất khẩu nông sản giải tỏa lượng hàngtồn dư trong thời gian ngắn, duy trì sản xuất và bảo vệ việc làm cho người lao động  Một thời cơ khác chính là giá tiền thấp của nông sản Việt Nam, đặcbiệt là loại sản phẩm thủy hải sản với giá rẻ ta hoàn toàn có thể sở hữu những thị trường chính như Mỹ, Eu.  Khi Việt Nam gia nhập WTO thời cơ mở ra cho ngành nông nghiệp nóichung và loại sản phẩm nông sản nói riêng cũng rất nhiều. Khi đó Nhà nước sẽ có nhữngchính sách để tăng trưởng nông nghiệp, loại sản phẩm nông sản sẽ thuận tiện tiếp cận với thịtrường quốc tế hơn.  Khả năng link 4 nhà, link những ngành, vùng sẽ thực ra hơn vàmang tính bền vững và kiên cố hơn. Triển vọng lôi cuốn góp vốn đầu tư quốc tế, hợp tác quốc tế trongnông nghiệp và tăng trưởng nông thôn cũng sẽ tốt hơn thiên nhiên và môi trường kinh doanh thương mại, môitrường góp vốn đầu tư sẽ được cải tổ, tạo niềm tin cho những nhà đầu tư nước ngoàiNguồn : http://agrbacgiang.vn14152. Thách thức cho nông sản Việt Nam • Trước mắt là sự phục sinh chậm của nền kinh tế tài chính quốc tế, đặc biệt quan trọng là những diễn biến gần đây về khủng hoảng cục bộ nợ của một số ít nướcchâu Âu sẽ tác động ảnh hưởng bất lợi đến xuất khẩu nông sản. • Phải xử lý được yếu tố rào cản thương mại của những thịtrường nòng cốt của nông sản Việt Nam. Như việc cá tra, tôm, cá rô phi ViệtNam bị đưa vào ” danh sách đỏ ” ở 1 số ít nước châu Âu, tôm liên tục bị ápthuế bán phá giá tại Mỹ … • Phải kiến thiết xây dựng được dựng kế hoạch nâng sức cạnh tranhcác loại sản phẩm nông, lâm, thủy hải sản trên thương trường. Đặc biệt là khi ViệtNam đã Open hội nhập kinh tế tài chính và tự do hóa thương mại toàn thế giới chắnchắn sẽ sễ ra sự cạnh tranh đối đầu rất nóng bức và kinh khủng. • Ngành nông nghiệp phải tập trung chuyên sâu triển khai tiêu chuẩnVietGAP nhằm mục đích bảo vệ vệ sinh bảo đảm an toàn và nâng cáo chất lượng cho mặthàng nông sản tạo ra sức cạnh tranh đối đầu. • Cần thay đổi công nghệ tiên tiến khai thác, chế biến xuất khẩu. Xâydựng những vùng chuyên canh, vùng nguyên vật liệu tập trung chuyên sâu. Đa dạng hóacác mẫu sản phẩm nông sản, bảo vệ cung ứng tốt những yên cầu khắc nghiệt của thịtrường • Cần tương hỗ và hướng dẫn những doanh nghiệp lan rộng ra thịtrường xuất khẩu ; phối hợp với những địa phương tổ chức triển khai hoạt động giải trí xúc tiếnthương mại ; kiến thiết xây dựng và quản trị chất lượng nông sản sản phẩm & hàng hóa, hướngdẫn những doanh nghiệp ĐK và bảo vệ tên thương hiệu. • Tích cực thực thi kế hoạch hành vi về hội nhập kinh tếquốc tế, triển khai không thiếu những cam kết quốc tế đã ký kết ; tạo môi trườngđầu tư, kinh doanh thương mại bình đẳng, minh bạch, không thay đổi, thông thoáng, có tínhcạnh tranh cao để kinh tế tài chính Việt Nam sớm được công nhận là nền kinh tế tài chính thịtrường. Nguồn : http://www.tantruonghung.com.vnV. KẾT LUẬNMặc dù là một nước đang tăng trưởng, nông nghiệp vẫn là ngành nòng cốt của nền kinhtế nhưng Việt Nam vẫn có những lợi thế riêng, điển hình như chi phí sản xuất cónguồn gốc ngoại tệ của hàng nông sản thấp sẽ làm cho thu nhập ngoại tệ ròng của16hàng nông sản xuất khẩu cao hơn so với những loại sản phẩm công nghiệp xuất khẩu nhưhàng dệt may, giầy da hay cơ khí … Ngành nông, lâm nghiệp, thủy hải sản là ngành sửdụng nhiều lao động vào quy trình sản xuất – kinh doanh thương mại, đây là một lợi thế vì hàngnăm nước ta phải xử lý thêm việc làm cho 1,4 triệu người bước vào tuổi laođộng. Điều kiện tự nhiên của một số ít vùng ở nước ta rất thuận tiện cho việc phát triểnsản xuất 1 số ít loại rau quả vụ đông có hiệu suất cao như cà chua, bắp cải, tỏi, khoai tâyMột số ít nông sản được những nước tăng trưởng ở châu âu ; Bắc Mỹ yêu thích như nhânhạt điều, dứa, lạc lại hoàn toàn có thể trồng ở Việt Nam trên những đất bạc mầu, đồi núi trọc ( nhưđiều ) hay trên đất phèn, mặn ( như dứa ). Ngoài ra khi nước ta gia nhập WTO đã làmgiảm giá những loại tư liệu sản xuất, giúp người dân tiếp cận được những văn minh khoa họccủa quốc tế. Cuối cùng là vì có thể chế chính trị không thay đổi, thiên nhiên và môi trường góp vốn đầu tư, hệ thốngpháp luật ngày càng được cải tổ đã tạo sự yên tâm cho những nhà đầu tư nước ngoàivào Việt Nam. Với những lợi thế trên, tất cả chúng ta cần có những giải pháp để phát huy nhằm mục đích phát triểnnền kinh tế tài chính. Cụ thể là nhà nước cần có chủ trương quy hoạch cho từng địa phươngnhằm nâng cao lợi thế so sánh từng vùng. Đồng thời cũng cần có những giải pháp hỗ trợngười nông dân trải qua những khuyễn mãi thêm về sử dụng đất, tín dụng thanh toán, góp vốn đầu tư … Hiện nay hầuhết những hạ tầng ở những vùng sản xuất nông nghiệp đã bị xuống cấp trầm trọng hoặc hư hại, chính vì thế mà nhà nước cần phải góp vốn đầu tư thiết kế xây dựng lại hạ tầng ở những cùng nôngthôn. Đặc biệt là chú trọng vào mạng lưới hệ thống giao thông vận tải, thủy lợi, điện, nước sạch. Nhànước cũng cần tăng cường góp vốn đầu tư cho điều tra và nghiên cứu tăng trưởng khoa học kỹ thuật và cáchoạt động nghiên cứu và điều tra tăng trưởng giống cầy trồng vật nuôi. Tăng cường công táckhuyến nông để hoàn toàn có thể đưa giống cây cối và vật nuôi mới có hiệu suất chất lượngcao hơn đi vào sản xuất. Nâng cao dân trí cho vùng nông thôn, tăng trưởng thêm hệthống trường học, nâng cao chất lượng trường học tại những vùng nông thôn. Tạo điềukiện cho người nông dân tiếp cận vốn trải qua tăng trưởng thị trường kinh tế tài chính nôngthôn. Nhà nước cần có giải pháp để hình thành mối link giữa sản xuất và tiêu thụ, thôi thúc hơn nữa mối link “ 4 nhà ”, đặc biệt quan trọng là mối link giữa nhà nông vàdoanh nghiệp. Nâng cao vai trò của những hiệp hội và của hội nông dân Việt Nam, cáchiệp hội ngành nghề ( hiệp hội cao su đặc, hiệp hội cafe, … ) đóng vai trò quan trọng làmcầu nối giữa người nông dân với những cơ quan chức năng. Cần tăng cường tạo lậpthương hiệu cho sản phẩm & hàng hóa nông sản Việt Nam. Đối với những ngành loại sản phẩm tạo ra giátrị xuất khẩu cao, đã sở hữu được vị thế trên thị trường quốc tế, cần liên tục nângcao chất lượng loại sản phẩm để duy trì và nâng cao tên thương hiệu sản phẩm & hàng hóa. Xây dựng vàphát triển những sàn thanh toán giao dịch sản phẩm & hàng hóa nông sản tập trung chuyên sâu là đầu mối để người nôngdân tiếp cận thị trường cũng như những doanh nghiệp tiếp cận với nguồn sản xuất, giảmthiểu những khâu trung gian. Tóm lại, trong thời hạn tới, việt nam cần có những đột phámạnh hơn cả về nhận thức, thả lỏng chủ trương, tạo những điều kiện kèm theo và tác nhân đảm bảokhác nhằm mục đích tăng cường thay đổi, đồng điệu hóa và cải tiến vượt bậc chủ trương nhằm mục đích tạo độnglực tăng trưởng kinh tế tài chính nông nghiệp tạo tiền đề tăng trưởng cho những mẫu sản phẩm nông sản nóiriêng. 17N guồn : 1. http://www.vkc.vn2. http://agrbacgiang.vn3. http://www.tantruonghung.com.vn18