Công thức chung của tư bản và những mâu thuẫn của nó

(Cập nhật lần cuối vào: 02/04/2022)

1. Công thức vốn chung

Tiền là sản phẩm cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hoá, đồng thời là biểu hiện đầu tiên của tư bản. Tất cả vốn ban đầu biểu hiện thành một lượng tiền nhất định. Nhưng bản thân tiền không phải là vốn. Tiền chỉ trở thành tư bản trong những điều kiện nhất định, khi nó được sử dụng để bóc lột sức lao động của người khác.

– Tiền được coi là tiền thông thường, trong sản xuất hàng hoá vận động đơn giản theo mối quan hệ: H – T – H (hàng – tiền – hàng) tức là hàng hoá chuyển hoá thành tiền thì tiền chuyển hoá lại thành Các mặt hàng.

Tiền được coi là vốn. Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, nó vận động theo quan hệ: T – H – T (tiền – hàng – tiền), tức là sự chuyển hóa của tiền thành hàng hóa, rồi hàng hóa lại chuyển hóa thành tiền. Mọi loại tiền lưu thông theo công thức T – H – T đều được chuyển thành tư bản.

Qua so sánh công thức lưu chuyển hàng hoá đơn giản H – T – H và công thức lưu chuyển tư bản T – H – T, ta thấy chúng có những điểm giống nhau: hai sự vận động đều do hai giai đoạn ngược chiều nhau mua và bán. với nhau, ở mỗi giai đoạn đều tồn tại hai yếu tố vật chất đối lập nhau là tiền và hàng hóa và giữa chúng là hai đối tượng có quan hệ kinh tế là người mua và người bán. Nhưng đây chỉ là những điểm tương đồng về ngoại hình. Có sự khác biệt về chất giữa hai công thức.

Lưu thông hàng hoá giản đơn bắt đầu bằng việc bán (H – T) và kết thúc bằng việc mua (T – H). Cả điểm bắt đầu và điểm kết thúc của quá trình này đều là hàng hóa, và tiền chỉ đóng vai trò trung gian. Ngược lại, quá trình luân chuyển của tư bản bắt đầu bằng việc mua (T – H) và kết thúc bằng việc bán (H – T). Tiền vừa là điểm xuất phát vừa là điểm kết thúc của quá trình, còn hàng hóa chỉ đóng vai trò trung gian; Tiền ở đây không phải là một khoản thanh toán cuối cùng mà chỉ là một khoản tạm ứng và sau đó sẽ trở lại.

Mục đích của lưu thông hàng hoá đơn giản là giá trị sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu, do đó hàng hoá trao đổi phải có giá trị sử dụng khác nhau. Việc huy động dừng lại ở giai đoạn thứ hai, khi những người trao đổi có được giá trị sử dụng mà họ cần. Mục đích của quá trình luân chuyển của tư bản không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, một giá trị gia tăng cơ bản. Vì vậy, nếu số tiền thu được bằng số tiền đi ra thì chiến dịch trở nên vô nghĩa. Do đó, số tiền thu về phải lớn hơn số tiền đã trả, nên công thức chung cho sự luân chuyển của tư bản là T – H – T ‘, trong đó T’ = T + ΔT.

Số tiền vượt quá số tiền ứng trước (ΔT), C. Mác gọi đó là giá trị thặng dư. Số tiền tạm ứng ban đầu trở thành vốn. Do đó tư bản là giá trị sinh ra giá trị thặng dư. Mục đích của quá trình lưu thông của tư bản là tăng trưởng giá trị, là giá trị thặng dư, do đó sự vận động của tư bản là không giới hạn, bởi vì sự tăng trưởng của giá trị là không giới hạn.

C. Mác đã kêu gọi công thức T – H – T ‘là công thức chung của tư bảnVì sự vận động của mọi tư bản đều thể hiện trong lưu thông dưới hình thức chung này, dù là tư bản thương nghiệp, tư bản công nghiệp, tư bản cho vay.

2. Những mâu thuẫn của công thức vốn chung

Tiền ứng trước, tức là tiền đưa vào lưu thông, khi về tay chủ sở hữu thì có thêm một lượng tiền nhất định. Chính bản chất của lưu thông có làm cho tiền tăng lên và từ đó hình thành giá trị thặng dư không?

Trong lưu thông, trao đổi ngang giá hoặc không ngang giá không tạo ra giá trị mới, và do đó không có giá trị thặng dư.

Trong trường hợp trao đổi vật ngang giá: nếu hàng hóa được trao đổi ngang giá thì chỉ có sự thay đổi về mặt hình thức giá trị, từ tiền thành hàng và từ hàng thành tiền, còn tổng giá trị cũng như một phần giá trị nằm trong tay của mỗi bên. đổi. trao đổi trước sau không đổi. Tuy nhiên, về giá trị sử dụng thì hai bên trao đổi đều có lợi.

Trong trường hợp trao đổi không tương đương: nếu hàng hoá được bán với giá cao hơn giá trị, thì lợi nhuận mà người bán thu được bằng số tiền mà người mua sẽ mất, và cuối cùng thì người đó chẳng thu được gì. Nếu bạn mua hàng hóa thấp hơn giá trị của chúng, tình trạng tương tự như trên. Lợi nhuận mà anh ta nhận được với tư cách là người mua sẽ bị mất đi với tư cách là người bán. Giả sử có những người chuyên mua thấp bán cao bằng thủ đoạn, thì như C.Mác đã nói, điều này chỉ có thể giải thích sự làm giàu của những người buôn bán riêng lẻ, chứ không thể giải thích được sự làm giàu của những người giàu có của toàn bộ giai cấp tư bản. . Bởi vì tổng giá trị trước khi đổi cũng như trong và sau khi đổi không thay đổi, chỉ có phần giá trị trong tay của mỗi người đổi mới thay đổi.

Như vậy, nếu người ta trao đổi những vật có giá trị ngang nhau thì không có giá trị thặng dư, còn nếu người ta trao đổi những vật có giá trị ngang nhau thì không có giá trị thặng dư. Sự lưu thông không tạo ra giá trị mới.

Nhưng nếu người có tiền mà không tiếp xúc với lưu thông, tức là đứng ngoài lưu thông thì không thể làm cho tiền của mình hoạt động được.

“Như vậy, tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông cũng như không thể phát sinh ngoài lưu thông. Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không lưu hành.