Đừng “Già đi rồi mới giàu”!

Đừng “Già đi rồi mới giàu”! Đây là một vấn đề lớn về kinh tế – xã hội đối với Việt Nam trong tương lai gần khi dân số đang già đi nhanh chóng, vì vậy tôi nghĩ cần phải có cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề này, hiểu rõ hơn từ lý luận đến thực tiễn. Nếu không, việc nhìn nhận tình hình từ một góc độ sai lầm sẽ dẫn đến những chính sách không phù hợp.
Đừng
Đừng “Già đi rồi mới giàu”!
Trước tiên, chúng ta cần phân biệt người cao tuổi (NCT) / người cao tuổi với dân số già. Người già của ngày hôm nay và người già của ngày mai (ví dụ như trong 30 đến 40 năm tới) rất khác nhau. Những người già ngày nay, đặc biệt là những người rất già (từ 80 trở lên, như nhiều hình ảnh trong các bài báo đã nêu ở trên) là những người trẻ trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, kinh tế đất nước còn khó khăn nên không có tiết kiệm, không có lương hưu, không có điều kiện tự lo cho sức khỏe và học tập nên sức khỏe yếu, cơ hội việc làm không nhiều … trong cuộc sống. Ngược lại, người cao tuổi của tương lai (trong những thập kỷ tới) là người trẻ ngày nay – thế hệ có nhiều cơ hội hơn để được giáo dục, chăm sóc sức khỏe và nâng cao mức sống.

Như vậy, chúng ta có thể mong đợi cuộc sống của họ sẽ được cải thiện đáng kể khi về già. Có nghĩa là, hình ảnh những người lớn tuổi chống chọi với sức khỏe kém sẽ ngày càng ít đi. Thống kê từ cuộc điều tra mức sống hộ gia đình cho thấy tỷ lệ người cao tuổi sống trong cảnh nghèo đói đã giảm gần 7 lần, từ hơn 70% năm 1998 xuống còn khoảng 11% năm 2014. Trong tương lai, tỷ lệ này sẽ còn giảm hơn nữa khi thu nhập được cải thiện.
Trên thực tế, từ trước đến nay khi nói đến cụm từ “chưa giàu mà đã già”, các học giả quốc tế thường hàm ý rằng thu nhập bình quân đầu người của một quốc gia chưa đạt đến mức cao (giàu) mà dân số nước này đạt tới. ngưỡng tuổi già (thà già chưa giàu). Cụ thể: khi tỷ lệ người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) đạt 7% tổng dân số là “dân số già” và khi đạt 14% tổng dân số là nói “dân số già. ”. Dân số Việt Nam hiện đang “già hóa” khi tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm hơn 7% tổng dân số. Tương tự, để xếp hạng thu nhập của các quốc gia, Ngân hàng Thế giới (WB) đã đưa ra các ngưỡng – thường được đo bằng GDP bình quân đầu người theo sức mua tương đương và giá cố định quốc tế trong một năm nhất định. Dưới $ 2.000 là thu nhập thấp; $ 2.000 đến $ 5.000 là thu nhập trung bình thấp hơn; $ 5.000 đến $ 10.000 là thu nhập trung bình; 20.000 USD trở lên được coi là cao.

Từ những định nghĩa này, và dữ liệu từ năm 2015, báo cáo Chỉ số Phát triển Thế giới (WDI) năm 2016 và sau đó nhìn vào mối quan hệ giữa tỷ lệ dân số cao tuổi và GDP bình quân đầu người, tình hình rất khác nhau: người chưa giàu đã bắt đầu có tuổi (Việt Nam, Trung Quốc); không già đi nhanh chóng nhưng rất giàu có (Mỹ); rất / siêu già và giàu (Nhật Bản); không quá già nhưng rất giàu (Singapore). Những thách thức còn thể hiện ở nhóm dân số từ 65 tuổi trở lên như Trung Quốc (gần 131 triệu), Việt Nam (gần 7 triệu), Thái Lan (gần 7,2 triệu)….

Theo các tiêu chí này, Việt Nam không phải là nước già nhưng dân số đang già đi. Nếu thu nhập bình quân đầu người tăng chậm hơn và không vượt quá ngưỡng “thu nhập trung bình” thì viễn cảnh “chưa giàu càng già” cũng không có gì đáng ngạc nhiên!

Cơ cấu dân số Việt Nam. (Nguồn: giadinh)
Vậy phải làm sao để tránh tình trạng này? Việt Nam hiện đang có “cơ cấu dân số vàng”, nghĩa là tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động tiếp tục tăng, quy mô lực lượng lao động ngày càng tăng. Lực lượng này nếu có kiến ​​thức, kỹ năng và sức khỏe tốt sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhanh chóng cải thiện thu nhập và chuẩn bị tốt để trở thành người già trong tương lai. Nói cách khác, bản thân mỗi người phải “dưỡng già ngay từ khi còn nhỏ” và nhà nước phải tạo điều kiện tốt nhất để mọi người thực hiện điều này.
PGS. TS Giang Thanh Long
Viện trưởng Viện Quản lý và Chính sách Công, Trường Đại học Kinh tế TP.

“Thế giới & Việt Nam”