Thực trạng ô nhiễm đất ở Việt Nam

chienlubo.vn 13/10/2018 14/10/2018 Chức năng bình luận bị tắt ở Ô nhiễm đất ở Việt Nam đỏ đáng báo động.

Trong những năm gần đây, người Việt Nam chúng ta phải đối mặt với nhiều vấn đề khác nghiêm trọng hơn, trong đó có ô nhiễm môi trường.

Bạn đang xem: Tình trạng ô nhiễm đất ở Việt Nam

Đối với người dân vùng nông thôn sống chủ yếu từ nông nghiệp, ô nhiễm đã ảnh hưởng đến cuộc sống của họ, đặc biệt là ô nhiễm môi trường đất.

Vậy thực trạng ô nhiễm môi trường đất ở Việt Nam như thế nào và đâu là nguyên nhân cũng như cách giải quyết phù hợp nhất. Mời các bạn cùng đọc bài viết dưới đây

1. Nguyên nhân của hiện trạng ô nhiễm môi trường đất ở Việt Nam

*

Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường ở Việt Nam

Có thể khẳng định nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường là do nhiều yếu tố: con người và tự nhiên.

Vấn đề ô nhiễm môi trường đất ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới được coi là tập hợp các hiện tượng dẫn đến sự gia tăng hàm lượng các chất tự nhiên trong đất, hoặc phát sinh thêm các chất độc lạ (trong mức độ tiêu chuẩn. vượt quá), gây hại cho môi trường, sinh vật và làm xấu cảnh quan.

Phân loại ô nhiễm môi trường đất: chúng ta có thể phân loại đất ô nhiễm theo nguồn gốc và theo yếu tố gây ô nhiễm môi trường đất:

Ô nhiễm môi trường đất theo nguồn gốc bao gồm: ô nhiễm do thải công nghiệp, hoạt động nông nghiệp và tác động của các hoạt động dân cư; Ô nhiễm môi trường đất làm phát sinh các chất ô nhiễm bao gồm: ô nhiễm hóa học, ô nhiễm sinh học và ô nhiễm vật lý.

2. Ô nhiễm môi trường đất Việt Nam thực phẩm

*

Phá rừng dẫn đến ô nhiễm đất ở Việt Nam

Hiện trạng ô nhiễm môi trường đất ở Việt Nam. Ở Việt Nam hiện nay có 33 triệu ha đất tự nhiên, trong đó diện tích đang sử dụng là 22.226.830 ha, chiếm 68,83% tổng quỹ đất.

Xem thêm: Cách làm khô mực rim nước mắm tỏi, 3 cách làm khô mực chiên giòn dễ làm

Có 10.667.577 ha đất chưa sử dụng, chiếm 33,04% diện tích đất tự nhiên. Đất nông nghiệp ít, chỉ 8,146 triệu ha, chiếm 26,1% diện tích đất tự nhiên (theo Tổng cục Địa chính, 1999).

Với đặc điểm là miền núi chiếm 1/2 lãnh thổ, nằm trong vùng nhiệt đới, lượng mưa dồi dào và tập trung, nhiệt độ trong không khí cao, các quá trình khoáng hóa trong đất diễn ra rất mạnh nên dễ bị rửa trôi, xói mòn, và chất lượng kém, chất hữu cơ và chất dinh dưỡng dẫn đến suy thoái đất. Đất bị thoái hóa rất khó khôi phục lại trạng thái màu mỡ ban đầu.

3. Hậu quả của ô nhiễm môi trường đất ở Việt Nam

Hậu quả của ô nhiễm môi trường là suy thoái nghiêm trọng với một số biểu hiện như:

– Dễ bị xói mòn do nước, khi gặp các chuyển động lớn như sạt lở đất khi lượng mưa lớn, thảm thực vật bị tàn phá, canh tác nông nghiệp không đúng cách, các chất dinh dưỡng bị mất đi phù sa và bị dòng sông cuốn đi, lượng chất dinh dưỡng và trôi dạt khoảng 10 lần;

– Thừa muối: đất thừa Na + nhưng lại thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết;

– Suy thoái hóa học: liên quan đến việc mất đi các chất dinh dưỡng cần thiết và cơ bản cũng như hình thành các độc tố Al3 +, Fe2 +, khi các chỉ tiêu này quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng đến môi trường.

*

Hậu quả của ô nhiễm đất ở Việt Nam

Suy thoái sinh học: sự gia tăng tốc độ khoáng hóa mùn mà không có sự bù đắp của chất hữu cơ sẽ làm đất nhanh chóng nghèo kiệt, giảm khả năng hấp thụ và giảm khả năng cung cấp nitơ cho sinh vật. . Đa dạng sinh học trong môi trường đất bị suy giảm;

– Biến đổi thành phần và tính chất của đất; làm cứng sàn; chua hóa đất; làm thay đổi sự cân bằng dinh dưỡng giữa đất và thực vật do dư thừa nitơ trong đất (chỉ có khoảng 50% lượng nitơ bón vào đất được thực vật sử dụng, phần còn lại là nguồn gây ô nhiễm cho đất);

– Gây ra một số bệnh truyền nhiễm, bệnh do giun sán, ký sinh trùng mà hầu hết mọi người đều mắc phải, nhất là trẻ em nông thôn;

– Các chất phóng xạ, kim loại, nylon do không phân hủy được nên gây cản trở sàn nhà.

Ô nhiễm đất trên khắp thế giới ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người do tiếp xúc trực tiếp.

với đất hoặc hít phải do bay hơi của vật chất làm ô nhiễm sàn nhà; mối đe dọa tiềm tàng lớn nhất gây ra bởi sự xâm nhập của ô nhiễm đất vào các tầng chứa nước được sử dụng cho con người, đôi khi ở những khu vực dường như cách xa bất kỳ nguồn ô nhiễm rõ ràng nào.