Thương mại quốc tế là gì? Các hình thức và nguyên nhân của

(Cập nhật lần cuối vào: 12/01/2022)

1. Ý niệm

Thương mại là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa hai bên. Nếu các bên cư trú ở các quốc gia khác nhau, thương mại mang tính quốc tế. Thông thường, một trong những hàng hóa tham gia trao đổi là “tiền”, chẳng hạn như tiền tệ quốc gia của một bên, hoặc tiền tệ của quốc gia thứ ba, hoặc vàng. Nếu không có hàng đổi hàng là tiền, thì thương mại là một “thỏa thuận”. Hàng đổi hàng “Hàng đổi hàng” là việc trao đổi trực tiếp một hàng hóa hoặc dịch vụ cho một hàng hóa hoặc dịch vụ khác. Nếu đối tượng trao đổi là hàng hoá (sản phẩm vật chất) thì gọi là mua bán hàng hoá; và đối tượng trao đổi là dịch vụ (sản phẩm vô hình) thì chúng ta mới nói đến thương mại dịch vụ. Theo thời gian, quy mô thương mại hàng hóa không ngừng tăng lên, chưa kể thương mại dịch vụ cũng không ngừng phát triển và mở rộng.

Các bên tham gia thương mại quốc tế có thể là các công ty đại chúng, công ty tư nhân hoặc các cá nhân được gọi chung là thương nhân.

So với thương mại trong phạm vi quốc gia, thương mại quốc tế có hai đặc điểm sau: thứ nhất, thương mại quốc tế vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia, do đó chính phủ mỗi quốc gia có thể dễ dàng kiểm soát và áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu; Thứ hai, thương mại quốc tế gắn liền với việc sử dụng các đồng tiền quốc gia khác nhau nên nó liên quan đến thanh toán quốc tế và tỷ giá hối đoái.

2. Hình thức

Thương mại quốc tế có thể được thực hiện dưới hình thức xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, đưa ra nước ngoài và gia công phần mềm; tái xuất và trung chuyển, xuất khẩu tại chỗ. Trong đó xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ là chủ đạo và có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mọi quốc gia. Gia công và gia công phần mềm thường có chu kỳ ngắn, dòng vốn vào và ra của nó đều gắn với thị trường nước ngoài nên được coi là một phần của thương mại quốc tế. Hoạt động kinh doanh chuyển khẩu không có hành vi mua bán mà chỉ cung cấp các dịch vụ như vận chuyển quá cảnh, lưu kho, bảo quản … Ngoài ra, xuất khẩu tại chỗ đạt hiệu quả cao nhờ giảm chi phí đóng gói, lưu kho, vận chuyển. chi phí, thời gian thu hồi nhanh mà vẫn có thể thu được ngoại tệ.

3. Nguyên nhân của thương mại quốc tế

Một trong những mục đích của thương mại quốc tế là kinh doanh chênh lệch giá hoặc thu lợi nhuận. Do sự chênh lệch về giá cả nên có thương mại quốc tế, giả sử chất lượng hàng hoá như nhau. Chẳng hạn, cùng là mặt hàng gạo nhưng gạo ở Việt Nam rất rẻ, loại ngon từ 12.000 – 15.000 đồng / kg; và gạo ở Nhật Bản rất đắt, từ yên Nhật đến đô la Mỹ từ 3 đến 5 đô la / kg. Hoặc ngược lại, giá đồ điện tử ở Nhật đã rẻ, còn ở Việt Nam thì đắt hơn rất nhiều. Do đó, Việt Nam đã trở thành nước sản xuất và xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới trong khi Nhật Bản là nước sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm điện tử hàng đầu.

Kinh doanh chênh lệch giá quốc tế được định nghĩa là việc khai thác hiệu quả chênh lệch giá.

Giả sử một nhà kinh doanh có thể mua một hàng hóa (giả sử a) ở quốc gia A với giá x đô la cho mỗi đơn vị hàng hóa và bán nó ở quốc gia B với giá y đô la trên một đơn vị. Giả sử chi phí vận tải và chi phí giao dịch là không đáng kể và có thể bỏ qua. Nếu x> y, điều này sẽ khiến các nhà giao dịch mua hàng hóa ở nước B và bán nó ở nước A. Lợi nhuận từ hoạt động này sẽ là (xy) đô la trên một đơn vị hàng hóa.

Nếu việc buôn bán được tiến hành với quy mô vừa phải và được thực hiện bởi một nhóm nhỏ thương nhân, thì lợi nhuận từ việc buôn bán vẫn thuộc về các thương nhân. Quy mô của các sàn giao dịch không đủ lớn để ảnh hưởng đến giá của hàng hóa A ở nước A và nước B. Nhưng, nếu thị trường chênh lệch giá quốc tế là tự do, lợi nhuận đóng vai trò như một nam châm, thu hút những người khác tham gia vào giao dịch. Trong trường hợp không có chi phí giao dịch, chi phí giao dịch và các rào cản, kinh doanh chênh lệch giá sẽ tiếp tục tăng miễn là giá của hàng hóa a ở quốc gia A và quốc gia B không hội tụ với nhau. Kinh doanh chênh lệch giá sẽ làm cho giá ở nước A giảm và giá ở nước B tăng lên cho đến khi chúng ở trạng thái cân bằng. Lúc này, hoạt động của trọng tài sẽ dừng lại. Tuy nhiên, khối lượng giao dịch không đủ lớn để đưa mặt bằng giá trở lại trạng thái cân bằng. Giả sử quy mô của giao dịch đủ lớn để đưa mức giá về trạng thái cân bằng; khi đó nhà giao dịch sẽ ngừng giao dịch và sự chênh lệch giá sẽ tiếp tục xuất hiện. Tại thời điểm này, giá x khác với y, một lần nữa thu hút các nhà giao dịch vào các hoạt động giao dịch. Như vậy, hoạt động kinh doanh quốc tế là hoàn toàn khách quan, mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia.

Ngoài lý do tìm kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá, thương mại quốc tế còn diễn ra vì một số lý do khác. Thật vậy, sở thích (thị hiếu) của người tiêu dùng ở mỗi quốc gia là khác nhau. Mặc dù người Mỹ sản xuất ô tô cỡ nhỏ (ô tô Ford), họ vẫn mua Mercedes của Đức. Hay như người Việt mua ti vi JVC của Nhật, người Anh thích uống rượu của Pháp… Mỗi quốc gia lại có những sở thích tiêu dùng khác nhau. Để thỏa mãn sở thích của mình, họ phải thông qua thương mại quốc tế. Sự thay đổi nguồn lực là một yếu tố ảnh hưởng đến sở thích của người tiêu dùng. Một số quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên, trong khi những quốc gia khác lại nghèo tài nguyên. Ngoài ra, đất nước này còn được bao bọc bởi biển (biển bao quanh các đảo và quần đảo và có nhiều sông nhỏ ở Nhật Bản nhưng chắc chắn ít tanh hơn biển Việt Nam); Khác với địa hình của Nhật Bản, địa hình Việt Nam nối liền một dải từ Bắc vào Nam, có hơn 3.200 km bờ biển, có nhiều sông dài nên biển Việt Nam có nhiều loài thủy sinh hơn và có nhiều dự trữ hơn.

Tiếp theo phải kể đến sự chênh lệch về nguồn nhân lực và trình độ sử dụng nguồn nhân lực giữa các quốc gia. Một quốc gia dù giàu mạnh đến đâu cũng không thể có đủ tài nguyên và nhân lực để sản xuất ra tất cả các loại sản phẩm hoặc có cố gắng sản xuất cũng không đạt hiệu quả cao do chênh lệch giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm giữa các quốc gia. . Vì vậy, các quốc gia phải trao đổi với nhau thông qua thương mại. Do đó, thương mại quốc tế dựa trên sự phân công lao động giữa các quốc gia, cho phép mỗi quốc gia phát huy tối đa lợi thế của mình và do đó, lực lượng sản xuất toàn cầu sẽ được sử dụng một cách tiết kiệm và hiệu quả hơn.

Cùng với sự phát triển của khoa học và sự tiến bộ của công nghệ, sự chuyên môn hoá sản xuất ngày càng sâu sắc. Ngày nay, thương mại quốc tế không chỉ diễn ra trong phạm vi các quốc gia với các quốc gia, mà còn diễn ra giữa các công ty ở một quốc gia với các công ty ở các quốc gia khác.

Việc buôn bán có từ những ngày còn chiếm hữu nô lệ, nhưng hầu như chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp. Hàng hóa được trao đổi rất ít giữa các quốc gia, hầu hết chỉ tập trung vào những thứ xa xỉ dành cho những người giàu có. Ngày nay, khối lượng thương mại thế giới thông qua xuất nhập khẩu đang tăng lên rất nhanh. Tuy nhiên, so với tổng hàng hoá trao đổi, thương mại quốc tế chiếm một tỷ trọng nhỏ. Nhưng điều đáng nói là thông qua xuất nhập khẩu, nhu cầu tiêu dùng của mỗi quốc gia đối với tất cả các mặt hàng đã được đáp ứng với số lượng lớn hơn, điều chưa từng xảy ra trong nền kinh tế tự cung tự cấp. Đặc biệt đối với nhiều nước phát triển và đang phát triển, thông qua thương mại quốc tế, họ có cơ hội tạo việc làm, tăng thu nhập, tiết kiệm, thúc đẩy tăng trưởng, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Ngày nay, các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu và quốc tế hóa theo hướng hình thành một thị trường toàn cầu duy nhất nên sự phụ thuộc giữa các quốc gia thông qua thương mại ngày càng tăng.

4. Cơ chế điều tiết thương mại quốc tế

Theo quan hệ cung cầu quốc tế, hàng hoá được trao đổi, mua bán nhằm thoả mãn người mua và người bán; Nhưng điều này không có nghĩa là thương mại quốc tế là hoàn toàn tự do, mà nó được điều chỉnh bởi các quốc gia mua và bán. Khi có nhiều nước tham gia thương mại quốc tế thì vấn đề thương mại sẽ phức tạp hơn: chẳng hạn nhiều nước cần bán thì nhiều nước cần mua; vấn đề cạnh tranh bán hàng, cạnh tranh mua hàng và nhiều vấn đề khác phải được quy định và giải quyết như thế nào? Thương mại quốc tế sẽ ảnh hưởng như thế nào đến sản xuất và tiêu dùng của mỗi quốc gia? Do đó, chúng tôi cần một thỏa thuận chung giữa các quốc gia và hơn hết là một cơ quan quản lý trên phạm vi toàn cầu. Tổ chức quy định điều này là WTO – cơ quan đặt ra các quy tắc cho thương mại toàn cầu.

(Nguồn: TS. Nguyễn Xuân Thiện, Cẩm nang Thương mại Quốc tế)